View Full Version : đại việt sử thi - hồ đắc duy
ThanhTam
16-09-2009, 07:17 AM
ĐẠI VIỆT SỬ THI - HỒ ĐẮC DUY
Bài viết này gồm 30 quyển được sưu tầm từ Vietsciences
[Only registered and activated users can see links] Quyển 1: Thời đại Hồng Bàng
[Only registered and activated users can see links] Quyển 2: Thời đại Bắc thuộc (227-540)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 3: Ngô Quyền (938-944)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 4: Lý Thái Tổ (1010-1028)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 5: Lý Nhân Tông (1072-1127)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 6: Trần Thái Tông (1226-1258)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 7: Trần Nhân Tông (1278-1293)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 8: Trần Anh Tông (1293-1394)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 9: D N Lễ - Trần Thiếu Đế (1369-1400)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 10: Hồ Quí Ly - Giản Định Đế (1400-1409)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 11: Lê Thái Tổ (1423-1433)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 12: Lê Thái Tông (1433-1442) - Thánh Tông (1460-1497
[Only registered and activated users can see links] Quyển 13: Lê Hiến Tông (1497)/Mạc Phúc Nguyên (1546)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 14: Lê Trung Tông (1548) đến Nguyễn Phúc Nguyên (1613)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 15: Lê Thần Tông (1619-1643) đến Lê Dụ Tông (1705-1728)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 16: Trịnh Cương (1709) đến Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 17: Trung Ương hoàng đế (1778 – 1793)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 18: Quang Trung hoàng đế (1788-1792)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 19: Cảnh Thịnh hoàng đế (1792-1802)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 20: Gia Long hoàng đế (1802-1820)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 21: Minh Mạng hoàng đế (1820-1841)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 22: Thiệu Trị hoàng đế (1841-1847) đến Tự Đức (1847-1885)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 23: Pháp chiếm Gia Định (1859) và chiếm luôn ba tỉnh miền Tây
[Only registered and activated users can see links] Quyển 24: Các cuộc kháng chiến của nghĩa quân miền Nam
[Only registered and activated users can see links] Quyển 25: Pháp chiếm Hà Nội (1882) đến Hòa ước Giáp Thân (1884)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 26: Pháp lập Liên bang Đông dương – các phong trào bình Tây sát TảQuyển 27: Đồng Khánh (1885...) – các phong trào sĩ phu yêu nước
[Only registered and activated users can see links] Quyển 28: Vua Thành Thái (1889-1907) và Duy Tân (1907-1916)
[Only registered and activated users can see links] Quyển 29: Trần Cao Vân (VN QPH) – các phong trào kháng chiến toàn quốc
[Only registered and activated users can see links] Quyển 30: Khải Định (1916-25) Bảo Đại (1925-45) – anh hùng Nguyễn Thái Học
ThanhTam
16-09-2009, 07:19 AM
Quyển 1: Thời đại Hồng Bàng
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Dân tộc ta từ ngày dựng nước
Giòng sử thiêng đã được viết ra
Hằng nghìn năm trước trôi qua
Đất đây đã có quốc gia Việt Thường
THỜI ĐẠI HỒNG BÀNG (2879 - 257 TCN)
Vua Thần Nông vốn giòng Lạc Việt
Cháu : Đế Minh . Nối nghiệp vua ban (2879 TCN)
Rừng xanh, Ngũ Lĩnh chiêm quan
Phương Nam chọn đất , cưới nàng Vụ Tiên
KINH DƯƠNG VƯƠNG - XÍCH QUỶ
Với mỹ nhân xe duyên kết tóc
Sinh ra đời Lộc Tục hoàng nam
Cắm lều, dựng trại, chiêu dân
Đặt tên Xích Quỷ giang sơn một vùng
Kinh Dương Vương xưng hùng một cõi
Đất nước dài một giải mênh mông
Kết hôn con gái Thần Long
Sinh ra Sùng Lãm nối dòng Vương gia
LẠC LONG QUÂN
Lạc Long Quân có bà vợ trẻ
Nàng Âu Cơ diễm lệ thướt tha
Bà sinh một bọc trứng ngà
Một trăm trứng nở thành ra trăm người
Đi theo cha, năm mươi về tới
Bỏ núi rừng ra mãi Biển Đông
Mẹ cha dòng dõi : Tiên , Rồng
Như rừng với biển khó lòng cùng nhau
HÙNG VƯƠNG - VĂN LANG
Mãi về sau, Long Quân chọn được
Đất Phong Châu khí vượng kinh đô
Văn Lang lập quốc bấy giờ
Hùng Vương xưng đế, cõi bờ tuần tra
Nước Văn Lang, nhìn ra Đông Hải
Động Đình Hồ ở mãi Bắc phương
Bờ Tây : Ba Thục chắn đường
Phía Nam giáp nước Hồ Tôn của Chàm
Chia đất nước ra làm mấy bộ
Lấy Văn Lang làm chỗ trung quân
Việt Thường, Ninh Hải, Cửu Chân
Hoài Hoan, Giao Chỉ, Bình Văn, Dương Tuyền
Miền Vũ Dịch, Chu Diên, Cửu Đức
Miề⮠Tân Hưng, Phúc Lộc, Vũ Ninh
Ngoài xa Lục Hải mấy thành
Bên trong Lạc Tướng vây quanh bên ngài
Người Bách Việt chen vai sát cánh
Sống quây quần bên nhánh sông Lô
Đất, rừng trù phú trời cho
Dân chuyên nông nghiệp, rành đồ gốm nung
Nền Văn Hóa Đông Sơn rực rỡ
Chế Trống Đồng dùng ở khắp nơi
Khai sinh tục vẽ trên người
Xâm mình để tránh các loài dưới sông
Vào cuối đời Vua Hùng thứ sáu
Phù Đổng hương có cậu con trai
Lên ba chẳng nói chẳng cười
Nghe tin giặc đến liền đòi sứ vô
Tâu Hoàng Thượng : Xin cho thảo tặc
Sẽ đánh nhừ tan tác giặc Ân
Xin đúc ngựa sắt roi thần
Để làm vũ khí đánh quân bạo tàn
Rồi vươn vai, xua tan lũ giặc
Xong quay về đến đất Sóc Sơn
Áo nhung bỏ lại bên đường
Dấu chân Phù Đổng Thiên Vương nay còn
Đời Thành Vương, vua sai đem lễ (1062 TCN)
Biếu nhà Chu : Bạch trĩ vũ mao
Mở đầu hai nước bang giao
Chu công đáp lại , xe trao đưa về
Nàng Mị Nương muôn bề sắc sảo
Trai Thục bang kỉnh báo cầu thân
Vua Hùng hỏi ý quần thần
Xét rằng bên Thục mười phân đáng ngờ
Việc hôn nhân chẳng qua là tính
Dùng mưu ngầm kiêm định Văn Lang
Vua Hùng đã biết ý gian
Lựa lời từ chối Thục Vương việc này
Lại treo bảng kén tài phò mã
Ai nhanh chân sẽ gả Mị Nương
Sơn Tinh sớm, được hưởng hương
Chậm chân chàng Thủy đau thương hận thầm
Thủy Tinh thề , mổi năm làm lụt
Ra oai thần mưa trút nước dâng
Thục Vương xấu hổ còn hơn
Dặn cho con cháu quyết tâm trả thù
THỜI ĐẠI NHÀ THỤC (257 - 208 TCN)
AN DƯƠNG VƯƠNG ÂU LẠC
Năm Giáp Thìn (257TCN) bấy giờ Thục Phán
Xâm lấn dần địa phận Văn Lang
Tự xưng hiệu An Dương Vương
Kinh đô đóng ở Việt Thường Phong Khê
Bỏ quốc hiệu Văn Lang ngày trước (257TCN)
Đổi ra thành Âu Lạc từ đây
Tính theo năm tháng đến rày
Hăm bảy thế kỷ , kế thay vua Hùng
Đời cuối cùng của giòng Hồng Lạc
Tính ra là mười tám Hùng Vương
Trải bao điền hải tang thương
Đến nay Thục Phán chiếm luôn riêng mình
Chọn được chỗ lương điền đất tốt
Vua cho người động thổ khởi công
Cổ Loa thành gọi Tư Long
Xoay theo xoắn ốc từ trong ra ngoài
Thành Tư Long xây hoài chẳng được
Thần Kim Quy bày chước trừ ma
Dặn rằng dù có can qua
Linh Quang, Kim Trảo, móng ta cho người
Cổ Loa thành bời bời dũng khí
Tường thì cao, hào rộng lại sâu
Giang sơn Vua Thục từ sau
Linh Giang Nam Bắc đối đầu Trung Hoa
Tần Thủy Hoàng làm vua Trung Quốc
Cho Nhâm Ngao đất được một miền (214TCN)
Triệu Đà giữ trấn Long Xuyên
Phía Nam Thiên Đức thuộc quyền Thục Vương
Đất Nam phương lăm le muốn lấy
Đã mấy lần thất bại mưu sâu
Sai con Trọng Thủy sang hầu
Làm quan Túc Vệ, bắc cầu thông gia
Chàng Trọng Thủy nghe cha đánh cắp
Lấy nỏ thần bẻ gập làm đôi
Âm thầm để tạm một nơi
Đánh lừa vua Thục và người chung quanh
Cuộc chiến tranh về sau xảy đến
Cứ tưởng rằng nỏ vẫn chỗ xưa
Đến khi lâm trận nhà vua
Mới hay kẻ cắp đã đưa đi rồi
Giặc đuổi gấp, bén sau chân ngựa
Tới đường cùng núi Dạ chắn ngang
Thục Vương ngửa mặt mà than
"Nỏ thần vô dụng, Rùa thần cứu ta"
Rùa hiện ra, nhìn vua rối gắt :
"Kẻ ngồi sau là giặc biết không ?"
Mị Châu tình đã nặng lòng
Rắc đường lông ngỗng để chồng tìm theo
Vua quay lại, chém vèo một nhát
Nàng đã ra cái xác không hồn
Từ đây triều Thục mất luôn
Năm mươi năm chẵn chỉ còn vết lông (257-208TCN)
Đất Phiên Ngung vốn giòng Chân Định
Vua Triệu Đà thôn tính Lĩnh Nam
Là người quỷ quyệt, mưu thâm
Đã từng hỏi thử : "Ta bằng Lưu Bang ?"
THỜI ĐẠI NHÀ TRIỆU (207 - 111 TCN)
ÂU LẠC TRIỆU ĐÀ (VŨ ĐẾ) (207 - 137 TCN)
ở ngôi 71 năm
Nam Việt Vương Triệu Đà xưng đế (207TCN)
Năm Mậu Ngọ làm lễ lên ngôi
Giang sơn hùng cứ một thời
Cất quân chiếm lấy đất ngoài Trường Sa
Đánh Ngô Nhuế chạy xa khỏi đảo
Nơi biên thùy tiến thảo viễn chinh
Quyền uy riêng một triều đình
Dùng cờ Tả đạo xưng quyền đế quân
Triệu Vũ Đế thâu dần đất nước
Ở phía Nam tới được Việt Thường
Bắc Phương thì đến biên cương
Cùng người Trung Quốc vạch đường phân ranh
Hán Văn Đế trị bình cường thịnh (179 TCN)
Sai người vào Chân Định tìm ra
Mộ phần, gia tộc Triệu Đà
Sửa sang miếu mạo mấy tòa cung lăng
Kể từ đó, hai phương giao hảo
Hán và Đế xếp giáo lui binh
Bàng dân thiên hạ yên tình
Nước nhà thịnh trị thanh bình cả hai
VĂN VƯƠNG (137 - 125 TCN)
ở ngôi 12 năm
Cháu là Hồ, con trai Trọng Thủy
Nối ngôi vua, Vũ Đế trao cho
Văn Vương học đạo Thuấn Nghiêu
Lấy nhân lễ nghĩa làm điều trị dân
Mân Việt Vương cho quân xâm lấn
Nam Việt xưa thuộc Hán từ lâu
Kiến Nguyên sai tướng vào chầu
Giúp giùm Nam Việt, kết nhau lúc này
Lời giao ước chung tay chống giặc
Giữa hai miền Nam Việt - Trung Hoa
Nếu khi gặp việc can qua
Thì cùng hợp sức để mà cứu nhau
Vì Văn Vương ơn sâu cầu cạnh
Cho nên Vua bàn tính thiệt hơn
Sai người sắm sưả đưa con
Đem qua nhà Hán để làm con tin
Triệu Văn Vương ngồi trên gần được
Mười hai năm nối nghiệp Triệu Đà (137 - 125 TCN)
Anh Tề lúc trước cho qua
Nay quay trở lại thay cha trị vì
MINH VƯƠNG ( 125 - 113 TCN)
ở ngôi 12 năm
Mới vừa về, lên ngôi Thiên tử (124 TCN)
Triệu Minh Vương đã phụ lòng tin
Bỏ trưởng, lập thứ lòng riêng
Phong Cù Hoàng hậu gây thêm bất hòa
Mất kỷ cương quốc gia phân hóa
Phép nước suy mối họa gần bên
Vợ thì dâm loạn chuyên quyền (112 TCN)
Con còn bé bỏng đưa lên trị vì
Hán Nguyên Đỉnh tính bề xâm lược
Sai Ngụy Thần dùng chước gián ly
Khi dụ dỗ, lúc răn đe
Khuyên vua phiên thuộc theo về Bắc Phương
AI VƯƠNG (113 - 112 TCN)
ở ngôi 1 năm
Triệu Ai Vương sức hèn tuổi trẻ
Thái hậu là một kẻ trăng hoa
Giữa triều Tể Tướng Lữ Gia
Vì dân can gián nhưng bà chẳng nghe
THUẬT DƯƠNG VƯƠNG (112 - 111 TCN)
ở ngôi 1 năm
Lữ Gia vì nước nhà họ Triệu
Vung thước gươm kết liễu Ai Vương
Lập con trưởng của Minh Vương
Tên là Kiến Đức, Thuật Dương Vương hầu
Không bao lâu, biết vua bị giết
Nguyên Đỉnh bèn thừa dịp ra tay
Phiên Ngung sắp đặt mấy ngày
Mùa Đông Canh Ngọ bao vây thành trì (111 TCN)
THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ TÂY HÁN
(110 - 39 SCN)
Nước suy vi, dân tình ta thán
Tổ quốc chừ quân Hán cướp đi
Đất phân chín quận , giặc chia
Đặt quan cai quản, sau khi giết người
Đất Lĩnh Nam từ thời lập quốc
Đến bây giờ lại mất vào tay
Nước ta Bắc thuộc từ rày (110 TCN)
Giặc gây thảm cảnh đọa đày nhân dân
Đặt đất Nam làm đô hộ phủ
Thạch Đái là thứ sử Giao Châu
Tích Quang văn hóa thâm sâu
Tiếp theo Tô Định tham giàu bạo quan (110 TCN - 39)
Ở Giao Chỉ người dân còn nhớ
Công của người Thái Thú Nhâm Diên
Dạy ta cày cấy canh điền
Tỏ lòng tưởng niệm lập đền khói nhang
Thời Tây Hán lầm than khốn đốn
Suốt thời gian trăm bốn chín năm (149)
Bao nhiêu uất hận hờn căm
Thêm tên Tô Định tham tàn hại dân
THỜI ĐẠI TRƯNG NỮ VƯƠNG
TRƯNG VƯƠNG (40 - 43)
ở ngôi 3 năm
Hai Bà Trưng con quan Lạc tướng
Quê Phong Châu thuộc huyện Mê Linh
Trưng Trắc đến tuổi trưởng thành
Cùng chàng Thi Sách, kết tình phu thê
Thù Tô Định lắm bề hà khắc
Lại giết chàng Thi Sách tướng quân
Tham tàn một lũ bất nhân
Đọa đày thiên hạ muôn phần đớn đau
Thù Tô Định không sao kể xiết
Cùng với em thề quyết một lòng
Nam nhi đánh với quần hồng
Để coi nhi nữ vẫy vùng thử xem
Bà Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị
Phất cờ đào quyết chí trừ gian
Thù chồng không trả nào cam
Nước còn nô lệ chẳng kham lao tù
Vua nhà Hán, khởi từ năm Sửu (41)
Cho Phục Ba sang cứu Phong Châu
Lưu Long, Phù Lạc phong hầu
Đặt làm phó tướng dẫn đầu tiến binh
Ở Mê Linh, cùng dân cả nước
Để sẵn sàng chặn bước xâm lăng
Cửu Châu , Hợp Phố , Nhật Nam
Thanh Trì , Nam Hải , Lĩnh Nam theo về
Lệnh phát đi, đánh nhanh rút gọn
Dụ giặc vào chia mỏng địch quân
Kẻ thù như nước đang dâng
Ào ào tiến đến đã gần Tây Nhai
Trước thế giặc như loài lang sói
Sợ quân mình khó nổi đánh nhau
Vua bà ra lệnh lùi sâu
Vào vùng cứ địa, đào hào cắm chông
Trận khởi đầu giết xong Hàn Vũ
Giết tên này ở chỗ Tây Nhai
Trăm quân giặc chết trận này
Khiến cho Mã Viện phải thay ý đồ
Vượt sông Hồng thừa cơ đánh úp
Lịnh Hai Bà : Tạm chớ giao tranh
Bảo toàn lực lượng để dành
Cấm Khê đợi lịnh, đánh nhanh bất kỳ
Giặc biết ý cho đi từng đội
Lấn chiếm dần không vội ra quân
Binh ta đánh chậm, cầm chân
Điều quân đại chiến ở gần Hát Giang
Dưới lọng vàng, trên đầu voi chiến
Bóng hai bà ẩn hiện trong sương
Cờ đào phấp phới hiên ngang
Quần thoa nhi nữ mỡ đường tiến quân
Sau một trận giao tranh ác liệt
Sa cơ đành tuẫn tiết hy sinh
Hát Giang nước biếc gieo mình
Ơn đền nợ nước, tình riêng với chồng
Hai Bà Trưng một lòng với nước
Vì cơ đồ vị quốc vong thân
Trăm năm nước chảy đá mòn
Vẫn còn in lại dấu chân vua Bà
Năm Quý Mão hai bà tuẫn tiết
Trước mười năm ở tít Trung Đông (43)
Chiên con là chúa Hài Đồng
Chết trên thánh giá vì lòng độ nhân
Rút về Nam, Đô Dương vào núi
Cố tìm đường đánh đuổi Hán quân
Nghĩa binh Chu Bá theo chân
Mấy năm kháng chiến yếu dần tiêu hao
"Cột Đồng gãy thì Giao Châu diệt"
Là lời thề tướng giặc ghi đây
Phục Ba đúc, dựng cột này
Cổ Lâm dấu tích đến nay khó tìm
THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ ĐÔNG HÁN (43- 226)
Quân Đông Hán gọng kềm siết chặt
Trị dân Nam mặc sức giam cầm
Tha hồ vơ vét, tham lam
Cướp theo của cải bạc vàng mang đi
Những Thái Thú người Di, người Hán
Rất nhiều tên tán tận lương tâm
Làm quan đâu được vài năm
Vén thu lông trĩ, kỳ nam đem về
Năm Canh Tuất (190) Man Di Nam Chiếu
Quy tụ người ở đạo Nhật Nam
Cũng như dân ở Tượng Lâm
Lập nên nước mới là Chàm hiện nay
Nước Lâm Ấp tôn ngay thủ lĩnh
Là Khu Liên thống lĩnh toàn dân
Về sau đổi lại Hoàng Vương
Đất đai khai phá mở mang xuống dần
Hán Trung Bình vào năm Giáp Tý (184)
Giao Lý Tiến quản lý Giao Châu
Rồi sai Sĩ Nhiếp về sau
Phong chức Thái Thú cầm đầu từ đây
THỜI ĐẠI BẮC THUỘC NHÀ ĐÔNG NGÔ (226 - 280)
Sĩ Nhiếp người Vấn Dương, nước Lỗ
Cuối năm Dần đầu với Ngô Vương
Tôn Quyền cho gửi thư sang
Giữ nguyên chức tước, phong hàm Tướng Quân
Quân xâm lược dần dần áp đặt
Lấy luật Tàu ép bắt dân ta
Đổi thay phong tục đã qua
Lâu ngày đồng hóa, dần dà diệt luôn
Năm Bính Dần nữ vương Triệu Ẩu (246)
Dấy dân quân chiến đấu diệt Ngô
Núi Nưa tụ nghĩa dựng cờ
Giết viên thứ sử nhà Ngô đương thời
THỜI ĐẠI TRIỆU THỊ TRINH
248 - 248 ở ngôi 1 năm
Triệu Thị Trinh là người nhan sắc
Cùng anh là Quốc Đạt cầm quân
Lệnh Bà sức khỏe đang xuân
Cỡi đầu voi dữ diệt quân bạo tàn
Trong Núi Nưa, nuôi quân dạy tướng
Cờ mao dùng khiển tướng điều binh
Khiến cho giặc phải rùng mình
Tôn Quyền biệt phái sai Hành Dương sang
Triệu Trinh nương linh hồn chiến đấu
Trước ba quân tả hữu giáp vàng
Dân tôn "Lệ Hải Bà Vương"
Tên Bà nghe đến kinh hoàng giặc Ngô
Chúa Đông Ngô mưu mô quỷ quyệt
Nhưng lệnh bà quyết diệt ngoại bang
Đánh cho Lục Dận kinh hoàng
Đánh cho quân giặc hết đường rút lui
Đất Mỹ Hóa là nơi tử chiến
Giặc xếp hàng Phú Điếu chôn thây
Ngô vương chiến thuật đổi ngay
Dằng dai phản kích đêm ngày cầm chân
Lũ Giặc Ngô lâu dần trụ vững
Chiếm từ từ dân chúng chung quanh
Bà Triệu rút bỏ khỏi thành
Nghĩa quân kiệt sức nên đành bại vong (248)
Dòng sông Lương binh không thấy bóng
Dáng Nhụy Kiều nữ tướng năm nao
Phất phơ một ngọn cờ đào
Sơn hà phút chốc lọt vào ngoại bang
ThanhTam
16-09-2009, 07:20 AM
Quyển 2
Thời đại Bắc thuộc 227-540
Đất Giao Châu tách làm hai phía (264)
Phần phương Nam Giao Chỉ đặt tên
Tấn - Ngô , nhị quốc tranh quyền
Đất vùng thuộc địa rối ren tơi bời
Lúc Đông Ngô, lúc đời nhà Tấn
Lũ cầm quyền, tán tận lương tâm
Dân ta đói rách lầm than
Dưới ách nô lệ ngoại bang bấy giờ
Ông Đào Hoàng phong cho hầu tước
Khi Tấn triều cướp được Giao Châu (271)
Cầm quyền cũng được khá lâu
Bốn đời thứ sử nối nhau kế thừa
Quân xâm lược dù Ngô hay Tấn
Tống Lương Tề cũng vẫn ác ôn
Ngày càng bóc lột nhiều hơn
Thu gom của cải để làm của riêng
Bọn quan lại tranh quyền giành chức
Giết lẫn nhau cưỡng bức nhân dân
Như tên Lương Thạc, Lư Tuần (322)
Như tên Lý Tốn, Trường Nhân bấy giờ (380)
Phạm Hồ Đạt làm vua Lâm Ấp (399)
Cất quân vào đánh đất Nhật Nam
Tràn qua tiến chiếm Cửu Chân
Giao Châu thôn tính bàn hoàn Tấn Vương (413)
Hai năm sau Hoàn Vương đánh tiếp (415)
Vào Giao Châu cướp giết dã man
Bắt theo vô số dân thường
Đem về Phật Thệ để làm tù binh
Chúng đốt thành phá tan nhà cửa
Hủy kho tàng phóng lửa đốt dinh
Cửu Chân thiên hạ rùng mình
Dã man tàn bạo, dân lành ngả nghiêng
Viên thứ sử đương quyền tráo trở
Dụ Hoàng Vương vào chỗ nghi binh
Ra tay tốc chiến thình lình
Giết ngay Hồ Đạt đuổi binh khỏi thành
Phạm Dương Mại nhân danh Lâm Ấp(432)
Xin cai quản phần đất Giao Châu
Tống vương xuống chiếu phê vào
Rằng không chấp thuận yêu cầu của y
Năm Bính Tý (436) Hòa Chi khởi đánh
Giết Phù Long tướng lãnh Chiêm Thành
Tấn công tiến chiếm thật nhanh
Tiến vào Tượng Phố là kinh đô Chàm
Ở Nhật Nam giặc không quấy rối
Thời Hoàng Vương suy thoái dần dần
Lâm An Nam Chiếu là dân
Không còn đáng sợ như lần trước đây
Bọn quan lại lũ người gian ác
Lo làm giàu đi cướp của dân
Như tên Lưu Bột , Trường Nhân
Như là Lưu Khải tham quan đương quyền
Bọn Phương Bắc triền miên cướp bóc
Hại dân lành xúi dục man di
Điêu tàn non nước suy vi
Long dân mong ngóng những vì cứu tinh
NHÀ TIỀN LÝ (541 - 547)
LÝ NAM ĐẾ ở ngôi 7 năm
Ở Thái Bình tháng hai Tân Dậu (541)
Có một người hiểu thấu lòng dân
Đó là Lý Bí tướng quân
Gióng cờ tống cổ giặc Lương bạo tàn
Đặt quốc hiệu Vạn Xuân cho nước (544)
Dời đô về ở trước Long Biên
Người xưng Nam Đế nguyên niên
Xây cung Vạn Thọ đặt nền móng cho...
Đất Việt Thường cũng từ dạo đó
Có vương triều (544) phủ bộ trăm quan
Đặt ra tướng võ, tướng văn
Định thêm luật lệ để ngăn lạm quyền
Cho Triệu Túc được làm Thái phó
Lấy Tinh Thiều vào chỗ tướng Văn
Phạm Tu đã có công ngăn
Giặc người Lâm Ấp, võ quan uy quyền
Nhà Lương sai Bá Tiên tư mã
Làm tiên phong đánh trả Giao Châu
Chu Diên, vua đánh phủ đầu
Dằng dai chống cự, năm sau vỡ thành (545)
Trận Gia Ninh , trận sông Tô Lịch
Cả hai bên truy kích lẫn nhau
Địch dùng mưu kế đánh mau
Lệnh vua cho rút ngỏ hầu dưỡng quân
Đất Khuất Lạo, Tân Xương đóng tạm
Quân số còn hai vạn binh nguyên
Lại thêm ngàn lẻ ghe thuyền
Bổ sung binh lính dành riêng dự phòng
Hồ Điễn Triệt dàn quân phục kích
Đánh cầm chân đợi địch hết lương
Nhằm khi chúng sắp cùng đường
Tốc thần vua sẽ đánh tràn một phen
Trần Bá Tiên, tướng quân của giặc
Khích quân mình đánh thật cho hay
Thời cơ nay đã đến tay
Lúc đầm ngập nước đánh ngay tức thì
Quân ta vỡ, rút về Khuất Lạo
Để sửa binh, gươm giáo quân lương
Tổ chức quân ngũ đàng hoàng
Chọn thêm tướng giỏi, bổ sung nhân tài
Vua cho vời Triệu Quang Phục đến (546)
Trao cho người ấn triện thay vua
Dân quân đất nước đang chờ
Dặn người giữ vũng cơ đồ cha ông
Triệu Quang Phục anh hùng dũng liệt
Điều khiển quân hiểu biết mọi đàn
Thế vua, ông nhận ngai vàng
Sửa sang binh mã chọn đường ra tay
THỜI ĐẠI TRIỆU VIỆT VƯƠNG -
TRIỆU QUANG PHỤC (548 - 570)
ở ngôi 30 năm
Triệu Việt Vương lên thay Nam Đế
Đất Vũ Ninh được kể lắm người
Anh hùng hào kiệt khắp nơi
Tụ về dưới trướng chen vai diệt thù
Đầm Dạ Trạch ở Chu Diên huyện
Chọn gò cao huấn luyện dân binh
Bùn lầy bụi rậm vây quanh
Um tùm cây cỏ rừng xanh bạt ngàn
Dạ Trạch Vương đánh tan tướng giặc
Là Dương Sàn lấy đất Giao Châu
Năm trăm năm , lệ thuộc Tàu
Từ đây độc lập, nêu cao ngọn cờ
Kể từ giờ dân yên nước mạnh
Vùng cư dân ở cạnh Long Biên
Được mùa thóc lúa nhiều thêm
Diệt tan xâm lược chưa yên nội tình
Lý Thiên Bảo là anh Nam Đế
Cùng một người họ Lý bôn ba
Trong khi giặc mới tràn qua
Vào đất Di Lạc xưng là Đào Lang
Đào Lang vương sau khi tạ thế
Lý Phật Tử kế vị chúa công
Tử xua quân xuống miền Đông
Giành nhau với Triệu Việt Vương đất này
Tử là tay gian manh quỷ quyệt
Đã năm lần chỉ biết thua đau
Nay dùng chước quỷ mưu sâu
Tìm ra diệu kế dắt nhau trá hàng
Xin cho con Nhã Lang gởi rể
Cài vào nhà để dễ đoạt ngôi
Việt Vương vốn tính thương người
Vô tình để hắn vào nơi thăm dò
Triệu Quang Phục chẳng lo chú ý (570)
Bị Phật Tử tìm kế giết đi
Cảo Nương vì quá đam mê
Nên cha phải chết bởi nghe lời chồng
HẬU LÝ NAM ĐẾ (571 - 602)
ở ngôi 32 năm
Lý Phật Tử tiếm xưng Nam Đế
Lấy họ xưa là để lừa dân
Ô Diên, đô đóng mấy năm
Sau dời đô đến ở gần Phong Châu
Năm Nhâm Tuất vua Tàu sai tướng (602)
Là Lưu Phương Tổng Quản Quân Doanh
Đưa quân uy hiếp kinh thành
Phật Tử quá sợ, trói mình hàng ngay
Tướng nhà Tùy cho người áp giải
Đưa vua về giam tại Bắc Kinh
Nước ta nay lại trở thành
Là đất thuộc địa dưới quyền ngoại bang
THỜI ĐẠI BẮC THUỘC
NHÀ TÙY ĐƯỜNG (603 - 938)
Đất Việt Thường , vào tròng lệ thuộc (603)
Quân Tùy Đường lần lượt kéo sang
Dưới giày xâm lược ngoại bang
Nước non xơ xác hoang tàn thảm thương
Bọn Bắc phương đánh hơi thấy lửa
Nghe Lâm Ấp vàng quả thật nhiều
Lưu Phương được phái đem theo
Quân hơn một vạn vượt đèo đánh sang
Vua Phạm Chí chận đường đánh trả
Quân nhà Tùy bèn giả chạy thua
Đột nhiên quay lại đánh vào
Trung quân phản kích làm vua chạy dài
Nhà Tùy mất, Đường sai Đạo Hựu
Sang Giao Châu phủ dụ Khâm Hòa
Là người khét tiếng điêu ngoa
Khâm Hòa Thái Thú xin qua chầu hầu (618)
Y cướp bóc trân châu ngọc quý
Khi về Tàu, làm lễ dâng lên
Địa đồ, sổ bộ tịch điền
Của dân Nam Việt không quên một vùng
Đường Thái Tông đổi tên thành Phủ (622)
Xứ Việt Thường xưa gọi Giao Châu
Nay thì được gọi như sau
An Nam Độ Hộ thuộc Tàu từ đây
LÝ TỰ TIÊN ( 687 )
Quan cai trị mặc tay vơ vét
Của trong dân thu hết làm riêng
Có người tên Lý Tự Tiên
Hưng binh khởi nghĩa đứng lên diệt thù (687)
Vì lực ít, khó cơ chiến thắng
Bị giặc Tàu vây hãm đó đây
Về sau bị bắt, lưu đày
Quân tan, binh vỡ tiếc thay anh hùng
ĐINH KIẾN ( 687 )
Tướng của người là ông Đinh Kiến (687)
Gom tàm quân quyết chiến tới cùng
Đánh thành vây phủ tấn công
Giết tên Đô hộ dẹp xong lũ này
Vua nhà Đường cử ngay Tư mã
Tào Trực Tỉnh qua ngã Quế Châu
Phục binh giết Kiến trả thù
Cho tên Đô Hộ bấy giờ tham lam
MAI HẮC ĐẾ (722)
Mấy trăm năm , mấy đời Bắc thuộc
Toàn dân ta trói buộc triền miên
Bọn quan nha lại đương quyền
Làm điều thất đức đảo điên lòng người
Khắp mọi nơi dân tình ta thán
Mong có người báo hận cho dân
May thay có bậc thánh nhân
Quê làng Mai Phụ, Thúc Loan tên ngài
Cả toàn dân đến nơi Can Lộc (713)
Một lòng trừ ngoại tộc Bắc Phương
Thề nay đánh đuổi giặc Đường
Trừ quân xâm lược nhiễu nhương giống nòi
Năm Quý Sửu lên ngôi Cửu Ngũ (713)
Ngài là người đất cũ Hoan Châu
Thu về đất nước đã lâu
Bị Tàu đô hộ cất đầu không lên
Năm Giáp Dần (714) đuổi tên Đô Hộ
Là Sở Khách ra khỏi Giao Châu
Từ đây sạch bóng quân thù
Toàn dâm mỡ hội khởi đầu kỷ nguyên
32 châu thu liền một mối
Một Vương quyền phục vụ cho dân
Ngoại giao các nước ở gần
Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân để cùng
Lập thế chung : Tìm đường giữ nước
Khai sinh ra chiến lược liên hoàn
Họp cùng các nước lân bang
Tạo thành sức mạnh sẵn sàng đấu tranh
Bốn mươi vạn dân binh các nước
Làm kinh hồn lũ cướp Bắc phương
Mười năm ròng rã vua Đường
Vạch xong kế hoạch lên đường xuất quân
Dương Tư Húc làm quan Vệ Tướng (722)
Tiến quân vào theo hướng Phục Ba
Húc theo đường cũ đi qua
Từ Khâm Châu đến chỉ vừa một đêm
Trong thoáng chốc đã lềnh quân giặc
Ùa vào theo lối tắt đường sông
Quân ta bối rối vô cùng
Những nơi xung yếu lọt vòng bao vây
Mai Hắc Đế rời ngay khỏi phủ
Rút vào rừng đánh trả địch quân
Binh lương , khí giới hao dần
Quân cùng lực cạn mười phần còn hai
Nước độc lập đã mười năm chẵn (712 - 722)
Ngài mất rồi nhưng vẫn còn đây.
Tiếc thuong không nói nên lời
Đền Mai Hắc Đế nơi người mệnh chung
BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG (761 - 802)
Ba quý tử con Phùng Hạp Khánh (767)
Vị tướng tài bên cạnh Thúc Loan
Những trang văn võ song toàn
Phùng Hưng anh cả lại càng oai phong
Vật ngã trâu, tay không bắt hổ
Uy danh kia sấm nổ gần xa
Hưng binh vì nước, vì nhà (766 - 780)
Anh hùng hào kiệt nghe qua theo về
Cờ khởi nghĩa lời thề vì nước
Quyết tâm giành cho được non sông
Giúp dân giải thoát khỏi vòng
Đã từng nô lệ ở trong tay Tàu
Vì nô lệ phất cờ đại nghĩa
Đánh tan tành khiếp vía ngoại xâm
Đánh cho tướng giặc bàng hoàng
Đánh cho tơi tả đầu hàng mới thôi
Cao Chính Bình sợ oai mà chết (791)
Giặc nhà Đường kế hết cạn lương
Vẫn còn ngoan cố không hàng
Về sau dùng kế Anh Hàng mới xong
Dẹp giặc xong, làm vua trị nước
Ở trên ngôi vừa được bảy năm (782)
Một lòng vì nước vì dân
Khi ngài tạ thế nhân tâm sụt sùi
Ngài đã vì mệnh trời , quốc tổ
Dâng tôn ngai Bố Cái Đại Vương
Cầm quyền giữ mối kỷ cương
Giúp dân bẻ gãy gông cùm ngoại bang
Con Phùng An thay cha kế nghiệp
Bị nhà Đường uy hiếp đánh tan
Triệu Xương cai trị cử sang
Làm quan Đô Hộ An Nam lúc này (791)
Nửa thế kỷ từ ngày mất nước (790 - 840)
Cứ mỗi lần, kẻ trước kẻ sau
Sang làm Thứ Sử Giao Châu
Tên nào cũng trở thành giàu có thêm
Tội cho dân lên rừng xuống biển
Mò ngọc trai, tìm kiếm ngà voi
Cong lưng tôi mọi cho loài
Ngoại bang xâm lược tác oai dân mình
DƯƠNG THANH ( 819 )
Năm Kỷ Hợi (819) Dương Thanh thứ sử
Người Giao Châu chiêu dụ dân quân
Phất cờ khởi nghĩa đánh tan
Giết Lý Tượng Cổ tham tàn hiếp dân
Mấy năm sau Dương Thanh tử trận
Người Nam Chiếu Hoàn Độ kéo sang
Cùng đi có cả Hoàn Vương
Là vua Lâm ấp lên đường xâm lăng
NAM CHIẾU XÂM LĂNG ( 858 )
Năm Mậu dần, An Nam loạn lạc (858)
Khắp mọi nơi đói khát triền miên
Bên trong xã hội không yên
Cõi ngoài Nam Chiếu chiếm nguyên mấy vùng
Quân Nam Chiếu hung hăng xâm lấn
Đuổi quân Đường đến tận biên cương
Thành mất, tướng chết thảm thương
Giết ngay Sái Tập nhà Đường năm sau (863)
Quân Nam Chiếu cầm đầu một cõi
Đuổi giặc Đường ra khỏi Giao Châu (863)
Đặt viên Tư Tấn ngôi cao
Từ đây đất Việt thuộc vào người Man
Quân Nam Chiếu hai lần lấy đất
Đường binh thua mất mật Hải Môn
Quan dân thất đảm kinh hồn
Vừa bắt vừa giết dễ hơn vạn người
Nhà Đường sai Cao Biền sang đánh (846)
Với mưu đồ bình định Giao Châu
Chủ trương trấn áp làm đầu
Xây thành khẩn đất làm cầu giao thông
Năm Bính Tuất (866) xem xong dự án
Cao Biền cho đào móng sửa sang
La Thành xây mới khang trang
Nhà hơn bốn chục vạn gian để dùng
Đi một vòng gần hai nghìn trượng
Đắp quanh thành một đoạn đê cao
Vọng lâu liên kết cùng nhau
Châu mai bốn mặt thêm vào phía trên
Lại đào kênh Thiên Vy lấy lối (867)
Để ghe thuyền lui tới thông thương
Về sau dân gọi Cao Vương
Cao Biền đã ở đất Nam mấy đời
Đến năm Tý (880) lòng người không thuận
Bèn dấy lên tổng tấn công ngay
Đuổi tên Tăng Cổn chạy dài
Lại thêm Nam Chiếu tác oai bên ngoài
Quân Nhà Đường không ai cai quản
Chạy xô nhau kinh mạn bỏ thành
Nhắm đường Ung Quảng cho nhanh
Sau lưng để lại vô vàn binh lương
Thuở bấy giờ dân đang khổ ải
Một là do quan lại nhà Đường
Hai là Nam Chiếu nhiễu nhương
Chúng cùng cướp bóc phá tan nước mình
Giặc hai bên mặc tình vơ vét (905)
Chúng tha hồ càn quét nhân dân
Núi sông mấy bận qua phân
Lòng người uất hận chỉ mong có ngày
KHÚC THỪA DỤ (906 -907)
Khúc Thừa Dụ vừa ngay khi ấy
Với danh gia nổi dậy cơ đồ
Một lòng vì nước mà lo
Cùng dân khởi nghĩa, đắp mô chiếm thành
Giặc giả phong "Đồng Bình Chương Sự"
Kèm theo chức Tiết Độ Sứ quân
Dụ người mong được lòng dân
Dịu cơn phẫn uất của dân Việt mình(906)
Giặc biết đâu, người anh hùng ấy
Xoay thế cờ đoạt lấy thời cơ
Cùng dân giữ vững cõi bờ
Dễ dàng bẻ gãy ý đồ mưu thâm
KHÚC HẠO (907 - 917)
Mới ba năm mà người vội thác
Con : Khúc Hạo gánh vác lên thay (907)
Một trang anh kiệt nhân tài
Lấy dân làm gốc vạch ngay tỏ tường
Nhà cải cách kiếm đường phát triển
Từ nghèo nàn sẽ biến ấm no
Tổ chức quản lý phân cho
Từng châu, từng phủ phải lo chu toàn
Đừng đầu Tỉnh là viên Quản Giáp
Giáp, chia thành từng xã nhỏ hơn
Lựa người lệnh trưởng khôn ngoan
Bình quân thế ruộng vuông tròn cho dân
Lấy an lạc, khoan dung, giản dị
Làm phương châm cai trị nhân dân
Cải cách hành chính dần dần
Quốc gia đổi mặt ngày càng thắm tươi
Khi tạ thế chọn người kế vị
Suốt đời vua chỉ nghĩ đến dân
Giữ cho đất nước hùng cường
Dân thêm giàu mạnh ngày càng mở mang
Để giang sơn ngày càng vững chắc
Phải đối đầu với giặc Bắc phương
Ngoại giao khôn khéo nhún nhường,
Sứ thần trao đổi bình thường với nhau
Nơi địa đầu giữ yên biên giáp
Với Chiêm Thành, Chân Lạp phương Nam
Phân chia ranh giới rõ ràng
Đặt quân canh giữ sẵn sàng chặn ngay
KHÚC THỪA MỸ (917 - 923)
Khúc Thừa Mỹ lên thay Khúc Hạo (917)
Sai sứ thần sang báo vua Lương
Giữ tình giao hảo bình thường
Nhận cờ Tiết Việt tượng trưng Phiên thần (919)
Quân Nam Hán manh tâm chiếm đoạt
Lý Khắc Chính được cắt đem qua
Binh hùng tướng mạnh quân xa
Manh tâm chiếm lại nước ta bấy giờ
Năm Canh Dần kẻ thù Nam Hán (930)
Lấy đất đai ở quận Giao Châu
Đại La, Hoan , Ái thu vào
Cất quân mấy vạn đánh vào Champa
Thứ sử mới tên là Lý Tiến
Được điều sang trợ giúp việc quân
Nhưng mà thế giặc đã tàn
Đại La giữ được mấy phần chung quanh
Ở Dương Xá vang danh Bộ Tướng
Người họ Dương hào trưởng năm xưa
Ba ngàn quân sẵn phòng ngừa
Phất cờ khởi nghĩa diệt chừa ngoại xâm
Dương Đình Nghệ phá tan bọn giặc
Đuổi thứ sử vây bắt tàn quân
Giết thêm Trần Bảo hung thần
Tự xưng Tiết Độ Sứ Quân cầm quyền
DƯƠNG ĐÌNH ( Diên) NGHỆ (931 - 938)
Dương Đình Nghệ giữ yên đất nước
Coi binh quyền mới được bảy năm
Thì tên Nha Tướng gian thâm
Là Kiều Công Tiễn manh tâm hại người (937)
Ham địa vị giết ngay chủ cũ
Công Tiễn kia dạ thú lòng lang
Cũng vì ham chức, làm càng
Rước quân ngoại tộc phá tan cơ đồ
ThanhTam
16-09-2009, 07:26 AM
Quyển 3
NGÔ QUYỀN (938-944 )
Tính kể từ đầu năm Mậu Tuất (938)
Đất nước ta quả thật rối bời
Lăm le Nam Hán bên ngoài
Bên trong nội loạn lòng người oán than
Đất nước chìm trong cơn nguy biến
Vua Nam Hán muốn chiếm nước ta
Sai con Hoằng Tháo đem qua
Binh hùng tướng mạnh để mà xâm lăng
Chúa Nam Hán chiếu ban mũ áo
Cho Vạn Vương Hoằng Tháo tiên phuông
Cử thêm binh mã lên đường
Chiến thuyền theo hướng Bạch Đằng tiến vô
Còn riêng y, đóng đô Bác Bạch
Ở Hải Môn ứng trực sẵn sàng
Nghe tin quân giặc tràn sang
Ngô Quyền gấp rút chặn đường , đánh ngay
Trước giết Tiễn , sau bày thế trận
Sông Bạch Đằng dụ chúng tiến sâu
Cọc ngầm từng khoảng cách nhau
Đợi khi nước lớn trên bàu đổ ra
Thuyền của ta nhấp nhô mặt sóng
Tháo tức mình nổi trống tiến quân
Đuổi theo sát khí đằng đằng
Quân ta giả chạy, theo giòng nước xuôi
Rồi đột nhiên ta quay phản kích
Khi nước triều vừa kịp rút nhanh
Đánh cho một trận tan tành
Quan quân tướng giặc thất kinh rụng rời
Thuyền của địch đâm lòi cọc sắt
Nát lủng sườn khiến giặc thất kinh
Nhác trông lại thấy Ngô Quyền
Oai phong lẫm liệt trên thuyền chỉ huy
Ta chẻ đôi, phân ly đội ngũ
Giặc bỏ thuyền lố nhố lên bờ
Hán quân đâu thể nào ngờ
Lọt vòng mai phục ta chờ từ lâu
Địch khiếp vía đâm đầu tháo chạy
Còn quân ta thấy vậy đánh luôn
Dồn cho chúng đến cùng đường
Bắt ngay Hoằng Tháo, trước quân chém liền
Chúa Nam Hán vật mình đau đớn
Biết con đà tử trận , phanh thây
Xác con để lại đất này
Giận mình không đủ sức tài cứu con
Bạch Đằng Giang, sông xưa hùng dũng
Tiếng sóng rền còn vọng đâu đây
Hồn thiêng chót vót chân mây
Ngọn cờ độc lập tung bay trên thành
Người ta bảo có vành áng sáng (898 - 944)
Khi vua sinh tỏa rạng khắp nơi
Khí thiêng un đúc nên người
Tướng đi tựa hổ, nốt ruồi ngang lưng
Có trí dũng, sức nâng được vạc
Lúc trẻ thơ mẹ đặt Ngô Quyền
Cùng con Dương Nghệ kết duyên
Được phong Nha tướng cầm quyền Ái Châu
Đất Đường Lâm ơn sâu vũ lộ
Chọn Loa Thành làm chỗ đóng quân
Lập Dương hoàng hậu , chiêu đàn
Đặt ra chức tước cho hàng thân vương
Chế nghi lễ, đai cân phẩm phục
Thiết triều đình theo bậc đế vương
Ngài vừa bốn bảy thì băng
Ở ngôi cửu ngũ Việt Thường sáu năm (941)
Một chiến thắng ngàn năm để lại
Sông Bạch Đằng mãi mãi thiên thu
Đường Lâm xây dựng cơ đồ
Ngô Vương lưu dấu để cho đến giờ
DƯƠNG BÌNH VƯƠNG ( 945-950 )
Ngô Xương Ngập kế thừa ngôi báu
Có Tam Kha là cậu của mình
Di thư Vua viết phân minh
Giao Kha giúp rập con mình lên ngôi
Nhưng Tam Kha nuốt lời di chúc (945)
Tên gian thần thừa lúc ấu vương
Mon men trở dạ bất lương
Cướp ngôi của cháu , Bình Vương xưng càn
Dương Tam Kha mưu gian hại cháu
Bọn cận thần cho dẫu đa mưu
Cũng không giấu được ý đồ
Soán ngôi phản nghịch dở trò mị dân
HẬU NGÔ VƯƠNG ( 951-965 )
Ngô xương Văn nhân danh triều cũ
Cùng hai người họ Đỗ, họ Dương
Dùng mưu bắt được Bình Vương
Bảo toàn cơ nghiệp nối giòng họ Ngô
Văn cùng anh cùng lo việc nước
Sau Xương Ngập lấn lướt chuyên quyền
Muốn giành tất cả làm riêng
Gây nên chia rẽ anh em trong nhà
LOẠN SỨ QUÂN ( 966 )
Loạn sứ quân tạo ra thảm cảnh (966)
Mười hai phe tranh đánh lẫn nhau
Sứ quân tên họ như sau :
Lý Khuê, Bạch Hổ, Đằng Châu chiếm thành
Đất Thái Bình Nguyễn Khoan hùng cứ
Đỗ Cảnh Thạc, Xương Xí, Nguyễn Siêu
Lã Đường, Kiều Thuận tiếp theo
Rồi Ngô Nhật Khánh lại gieo kinh hoàng
Kiều Công Hãn giành dân với Tiệp
Loạn sứ quân chém giết lẫn nhau
Chiến tranh mãi đến năm sau
Cuối cùng Bộ Lĩnh tóm thâu nước nhà (968)
ĐINH BỘ LĨNH ( 968 -980 )
Đinh Bộ Lĩnh vốn là bộ tướng
Của sứ quân Trần Lãm Minh Công
Châu Hoan thứ sữ : cha ông
Quê người ở đất Đại Hoàn Hoa Lư
Mồ côi cha kể từ thuở bé
Mẹ họ Đàm quạnh quẽ nuôi con
Ngày thường với trẻ cùng thôn
Tréo tay làm kiệu suy tôn mà đùa
Cầm cờ lau, tay khua nghi trượng
Chơi như là điều tướng, khiển binh
Người già thấy thế làm kinh
Trẻ này sau lớn ắc thành đế vương
Quả nhiên sau, khương cường khôn lớn
Đầu quân về dưới trướng Minh Công
Cùng dân dấy nghĩa xưng hùng
Sứ quân hàng phục cuối cùng tôn lên
Vạn Thắng Vương thành tên người gọi
Bởi mỗi lần trống nỗi xuất quân
Điều binh tốc thắng như thần
Khiến cho hùng trưởng quy hàng dưới tay
Năm Mậu Thìn lên ngai Hoàng Đế (968)
Dời đô về kinh ấp Hoa Lư
Đắp thành, bảo vệ kinh đô
Sáu quân binh mã để lo giữ gìn
Đại Cồ Việt đặt tên cho nước
Dùng kinh tế liệu trước cho dân
Nghiêm minh trái lệnh bất tuân
Vạc dầu củi sắt để răn mọi người
Vua lại sai phân chia nhiệm vụ
Chọn nhân tài để bổ làm quan
Biên niên, lịch sử rõ ràng
Ghi từng sự kiện để làm tàng thơ
Chia binh ra quân cơ mười đạo
Cấp quân trang, mũ áo chỉnh tề
Định phân cấp bậc uy nghi
Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũ ghi rõ ràng
Đinh Tiên Hoàng lập năm hoàng hậu
Quá yêu con thơ ấu Hạng Lang
Phong làm Thái Tử thay vương
Buộc con Đinh Liễn phải nhường cho em
Năm Bính Tý thương thuyền các nước (976)
Lần đầu tiên dừng bước đất ta
Đem dâng phẩm vật lụa, ngà
Cống triều cốt để làm quà giao thương
Cuộc ngoại thương đầu tiên từ đấy
Của nước ngoài muốn cậy nhờ ta
Bán buôn trao đổi lại qua
Giữa dân các nước diễn ra trong vùng
Liễn mất quyền, sinh lòng chiếm đoạt
Giết Hạng Lang tội ác Việt Vương
Vì ngôi làm việc bất lương
Nhẫn tâm đến nỗi coi thường tình thâm (797)
Việc như thế nẩy mầm bạo loạn
Tên Đỗ Thích thí mạng nhà vua
Khi ngài an uống say sưa
Trong sân cung cấm bấy giờ nữa đêm
Hắn giết thêm Việt Vương Đinh Liễn
Rồi trèo tường lén ẩn trong cung
Bị quan Nguyễn Bặc truy lùng
Tìm ra hung thủ bên trong lổ vò
Tên Đỗ Thích bấy giờ bị bắt
Thân thể y băm nát thịt xương
Đáng đời răn kẻ làm gương
Âm mưu thoán đoạt ngôi vương của
người
Việc hại người chung quy là thế
Chuyện quốc gia phải để vô tư
Bỏ trưởng mà lấy con thơ
Lập năm hoàng hậu cơ đồ e hư
Rước linh cửu vua rồi đem táng
Mã Yên Sơn thuộc huyện Trường Yên
Quần thần đưa trẻ cầm quyền
Vừa tròn sáu tuổi đã lên ngai vàng
ĐINH PHẾ ĐẾ (979 - 980 )
Quan đại thần Lê Hoàn nhiếp chánh (980)
Mưu thông gian với cánh họ Dương
Vân Nga thái hậu tôn vương
Cùng quan Cự Lạng dọn đường đoạt ngôi
Vở hài kịch đến hồi ngoạn mục
Trong triều đình gặp lúc lao đao
Ngang nhiên nội phủ đi vào
Quan quân áo trận ào ào nói năng
ĐẠI HÀNH HOÀNG ĐẾ ( 980 - 1005 )
Tôn Thập Đạo nối chân Thiên Tử
Năm Canh Thìn khai thái tân quân (980)
Tung hô vạn tuế mấy lần
Vân Nga thái hậu cúi dâng áo bào
Lẽ đương nhiên nhân nào quả ấy
Bôĩnh xưa từng lấy vợ người
Trớ trêu cho cái sự đời
Vợ mình kẻ khác cướp rồi biết chăng ?
Quê Ái Châu Lê Hoàn xưng đế
Lấy vợ vua : Dương thị phu nhân
Lên ngôi Hoàng hậu để gần
Mười hai trai lớn lần lần phong vương
Năm Canh Thìn Tống vương hạ chiếu (980)
Sai Đa Tốn mang biểu thư sang
Vừa đe, vừa dọa, vừa nương
Tung đòn tâm lý dọn đường xuất quân
Tống chia quân ra làm bốn mũi
Hướng Bạch Đằng đường thủy tiến qua
Hội quân ở đất Đại La
Lạng Sơn binh bộ chia ba kéo vào
Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu sứ (980)
Tôn Hoàng Hưng, Khâm Tộ theo chân
Lưu Trừng đốc thúc thủy quân
Hơn ba vạn đứa lên đường vượt sang
Hầu Nhân Bảo dương dương tự đắc
Kéo quân vào đi tắt lối sông
Vừa qua gần tới Chi Lăng
Bị ta phục kích giết phăng ngay liền
Giặc khiếp đảm thất điên, bát đảo (981)
Lê Đại Hành vũ bão tiến công
Giặc phơi thây chết đầy đồng
Đánh tan ba vạn quét xong giặc thù
Bắt Phụng Huân, trói gô Quân Biện
Giải giặc Tàu về đến Hoa Lư
Bộ binh Khâm Tộ thua to
Tống Vương xuống chiếu truyền thu quân về
Vua nước Tống suy đi tính lại
Dùng chiến tranh không khỏi thương vong
Chi bằng đưa chế sách phong
Giử cho thông hiếu được lòng hai bên
Lê Đại Hành nắm quyền quân lữ
Sai Tử An mở lộ Bắc Nam (992)
Thân hành đánh chiếm Nam Man
Chém Bê Mi Thuế kinh hoàng dân Chiêm
Vì trước đó người Chiêm bắt giữ
Quan Từ Mục , Ngô Tử Canh sang
Đưa thư hỏi tội Hoàn Vương
Lâu nay không thấy đưa sang cống triều
Trăm cung nữ bắt theo về nước (982)
Lẫn bạc vàng lấy được trong cung
Nhà sư Thiên Trúc bị cùm
Theo quân chiến thắng đi cùng di quan
Vua ra lệnh phá tan tông miếu
Hủy thành trì quốc bửu thu gom
Đánh Chiêm một trận thất hồn
Rửa xong cái nhục dám giam sứ thần
Đối với Tống dần dần thông hiếu
Sai sứ thần dâng biểu Ung Hy
Xin làm tiết trấn biên thùy (985)
Đến năm Thuần Hóa phong vì Quận
Vương (995)
Khéo ngoại giao khi cường, khi nhược
Lúc sứ thần Lý Giác sang thăm (987)
Vua sai Sư Thuận giả làm
Chèo đò đưa sứ , đối ngâm thơ rằng :
"Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba"
Hai người ứng đối ngâm nga
Giác càng kính phục về nhà tấu lên
Vua cho trả bọn Quách Quân biện
Là tù binh trong trận Chi Lăng
Nhân khi Sứ Tống sang thăm
Tỏ tình hòa hiếu nhún nhường của ta
Vua cầm quyền, trông xa thấy rộng
Là một người lương đống tài cao
Giỏi tài nội trị ngoại giao
Giỏi tài khai khẩn vét đào kênh mương
Năm Quý Mão ( 1003) trên đường thị sát
Kênh Đa Cái hết nước cạn khô
Vua liền ra lệnh truyền cho
Quân dân nạo vét để đưa nước vào
Giặc Cử Long lâu lâu quấy rối
Vua đích thân di tới Cùng Giang
Điều quân , bày trận dọn đường
Kêu trời ba tiếng đánh tràn , giặc tan
Nam Bình Vương tước phong của Tống
Vì bãi binh ở Trấn Như Hồng
Vua Tàu cũng muốn đẹp lòng
Nên sai sứ đến tâng công cho ngài
Việc Ất Mùi (995) quan quân Giao Chỉ
Trăm chiến thuyền trực chỉ Trung Hoa
Hành quân tốc chiến từ xa
Như Hồng thị trấn vòng qua đánh vào
Châu Tô Mậu , Ung Châu nước Tống
Cũng bị ta chiếm đóng mấy ngày
Chiếm rồi cho rút ra ngay
Để mà nhắc nhỡ cho người biết ta
Sai quan nha đúc tiền Thiên Phúc (984)
Xây thêm lầu Long Lộc, Trường Xuân
Dựng nhà trên núi Đại Vân
Điện vàng, Điện bạc sức dân đổ vào
Đối với nước tài cao trông thấy
Nhưng việc nhà chẳng mấy kỷ cương
Anh em không biết nhún nhường
Mưu giành ngôi báu tranh vương đoạt
quyền
TRUNG TÔNG HOÀNG ĐẾ (1005 )
Điện Trường Xuân vào năm Ất Tỵ
Vua băng hà chiếu chỉ truyền ngôi
Anh em giành giật ghế ngồi
Cuối cùng Long Việt là người được may
NGỌA TRIỀU HOÀNG ĐẾ (1005 -1009)
Lê Long Đỉnh sai người hạ sát
Giết anh mình để đoạt ngôi vua
Sửa quan chế đổi triều vua
Rập khuôn theo đúng kiểu như bên Tàu (1006)
Mẹ Long Đỉnh tên Hầu Di Nữ ?
Là một người gốc ở Champa
Hai vua bà đã sinh ra
Nửa mang máu Việt , nửa là người Miên
Long Đỉnh có : bốn bà hoàng hậu
Xin Tàu cho mũ áo dát vàng (1009)
Tống triều chấp thuận gởi sang
Vua mang ngưu trắng đem dâng Bắc Triều (1007)
Theo Sử ký lắm điều quái đản
Được gán cho Long Đỉnh - Minh vương
Một là dâm đãng bạo tàn
Hai là ác đức coi thường mạng dân ?
Như chuyện lấy : thằng lằn làm gỏi
Bắt trẻ thơ ra gọi cho ăn
Bắt người trấn nước sủi tâm
Bắt người xẻo thịt, bắt nằm chuồng heo
Bắt trèo cây cheo leo cao vút
Đốn gốc để cho rớt xuống chơi
Lấy cỏ tranh quấn vào người
Rồi đem đốt lửa vua tôi giải sầu
Lại róc mía trên đầu sư trọc
Rồi giả vờ như sóc nhằm gai
Thả tay vua để dao rơi
Đầu sư gội máu, vua cười vỗ tay
Vua lại sai cho người bắt rắn
Bỏ vào quần để đặng dọa chơi
Lão bà hoảng vía la trời
Vỗ tay thích chí vua cười bò lăn
Lúc thiết triều vua nằm nghiêng ngả
Bởi vì người đã quá ham mê
Tửu sắc, dâm dật ê chề
Mắc thêm bệnh trĩ khó bề ngồi lâu
Tên "Ngọa triều" bắt đầu từ đó
Tẩm điện lâu là chỗ vua băng
Đồng dao lên tiếng hát rằng :
"Ngọa triều hoàng đế" là thằng quái thai
Có một điều mà đời chẳng hiểu
Tại sao vua dâng biểu xin kinh ? (1007)
Đắp đường, dựng cột, đào kênh ?
Đóng thuyền để chở bộ hành sang sông ? (1009)
Trong bốn năm coi trông việc nước
Đã năm lần chinh phạt phiến quân
Nếu vua là kẻ hôn quân
E rằng phải xét cân phân mọi bề
Nhà Tiền Lê tuyệt dòng từ đấy
Kỷ Dậu niên triều ấy mất ngôi (1009)
Cầm quyền hăm chín năm trời
Thay vua họ khác hai ngày lạ chưa ? !
Đã mấy lần cơ đồ nguy biến
Cảnh sơn hà lâm nạn chiến tranh
Quốc gia chìm nỗi gập ghềnh
Cuối cùng vẫn thắng xích xiềng ngoại bang
ThanhTam
16-09-2009, 07:27 AM
Quyển 4
LÝ THÁI TỔ ( 1010 - 1028 )
Lý Công Uẩn vốn dân Cổ Pháp
Sinh ra đời đúng bậc minh vương
Lên ngôi hoàng đế Việt Thường
Là n gười khoan thứ tinh tường việc dân
Cha không có, mẹ người họ Phạm
Chùa Tiêu Sơn giao hợp thần nhân
Sinh vua tuấn tú bội phần (974)
Năm lên ba tuổi cho làm con nuôi
Lý Khánh Văn nhận nuôi đứa bé
Trẻ thông minh đủ vẻ lương tường
Sư chùa Lục Tố rất thương
Nói rằng : Không phải người thường thế đâu
Mãi về sau lời sư Vạn Hạnh
Đã trở thành định mệnh quốc gia
Nhiều năm ròng rã trôi qua
Tiên tri lúc trước quả là đúng ngay
Sau hai ngày vua Lê Long Đĩnh
Chết chưa chôn thì chuyện xãy ra
Trong triều nỗi cuộc phong ba
Nguyễn Đê , Cam Mộc đứng ra nói rằng :
"… Bọn ta không nhân lúc này cùng nhau
sách lập Thân vệ ( Lý Công Uẩn ) làm thiên tử ,
lở bối rối có xãy ra tai biến gì ,
liệu chúng ta có còn giữ đựơc cái đầu hay không ? "
Cuộc chính biến tôn vương chớp nhoáng
Kế hoặch xong chỉ đúng hai ngày
Cho dù ai muốn trở tay
Cũng không xoay được đổi thay cuộc cờ
Lý Công Uẩn , cơ đồ có sẳn
Kẻ khôn ngoan dưới trướng khá nhiều
Thiền sư Vạn Hạnh phò theo
Thái sư Khuôn Việt đem điều nghĩa nhân
Gốc là dân mối giềng trị nước
Việc khởi đầu làm trước lên ngôi
Bỏ giềng lưới, bỏ giam người
Đại xá thiên hạ đổi đời từ đây
Vua xuống chiếu từ rày có việc
Không thuận lòng giải quyết với nhau
Được quyền diện kiến trình tâu
Vua thân phán quyết ngỏ hầu minh oan
Lại hạ lệnh : người đang trốn tránh
Cho phép về lại cảnh quê hương
Áo cơm giúp kẻ cùng đường
Tha người Nam Chiếu cấp lương đưa về
Vua lại phê, ba năm tha thuế
Sửa đình chùa đổ nát hư hao
Công, hầu, khanh tướng ban trao
Chọn người xứng đáng để giao trọng quyền
Viết chiếu truyền, dời đô đến chỗ (1010)
Thành Đại La đất cổ Cao Vương
Vùng này đất phẳng mười phương
Long chầu, hổ phục dị thường địa linh
Nhìn địa hình, đông, tây, nam, bắc
Thế đất này nét sắc mà oai
Vì dân lập kế lâu dài
Tính theo vận nước nhân tài hội đây
Lạ lùng thay, thuyền vua vừa đến
Có rồng vàng xuất hiện trên sông
Đổi tên thành gọi Thăng Long
Mùa thu tháng bảy khởi công dựng nền (1010)
Điện Càn Nguyên nơi coi triều chính
Điện Tập Hiền hướng định chánh Nam
Nằm sau là Điện Long An
Phía đông Giảng Võ Thư Tàng kế bên
Bốn cửa thành : Tương Phù, Quản Phúc
Cửa phía Bắc Diệu Đức mở ra
Đại Hùng theo hướng Tây qua
Tường cao hào chắn phía xa ngoại thành
Cửa Đan Phượng thông liền Uy Viễn
Bậc thềm rồng trước Điện Cao Minh
Thăng Long quang cảnh hữu tình
Nghênh Xuân cung cấm, ngoại thành chùa Nghiêm
Đổi niên hiệu Thuận thiên để tính (1010)
Chức đặt ra phân định rõ ràng
Sắc phong cho sáu bà hoàng
Các con đều được tước vương , tước hầu
Lấy kinh tế làm đầu trị quốc (1013)
Định lệ ra luật nước rõ ràng
Sáu tên sưu thuế đàng hoàng
Năm lần giảm thuế nước càng phồn vinh (1017)
Nơi Phiên trấn (1020), tình hình không ổn
Giặc xâm lăng khốn đốn dân binh
Cất quân chinh phạt tự mình
Đánh cho mấy trận tan tành Cử Long
Vua một lòng tôn sùng đạo Phật
Xuống chiếu truyền khuyên tập chép kinh
Để lầu bát giác tôn vinh (1021)
Đúc chuông, xây tháp, linh đình làm chay
Với Bắc triều vua sai thông hiếu
Nhà Tống phong Giao Chỉ quận vương
Năm lăm tuổi thọ hưởng dương (1028)
Hiệu là Thái Tổ, Thọ Lăng táng ngài
Lý Công Uẩn , nhân thời mỡ vận
Vốn là người khí tượng đế vương
Song ưa nghe việc dị thường
Nên chi bị lụy đoạn trường mà thôi
LÝ THÁI TÔNG ( 1028 -1054 )
Lý Phật Mã vâng lời di chiếu
Đến cấm thành mới hiểu ra rằng
Ba em mai phục thân quân
Giết mình để đoạt ngai vàng về tay
Xác vua cha còn đây chưa liệm
Sao ba em toan chiếm ngai vàng
Đông Chinh, Thánh Dực, Võ Vương
Rõ là cốt nhục tương tàn buồn thay
Cuộc chính biến, ba tay vương tử
Khiến triều đình phải xử cho nghiêm
Có quan Phụng Hiểu điện tiền
Rút gươm thẳng đến chém liền Võ Vương
Lý Phật Mã trong cơn bối rối
Lên ngôi vua hiệu đổi Thiên Thành
Tôn cha, Thái Tổ thần danh
Quốc tang bố cáo trong thành, ngoài biên
Vua tha cho bọn em dấy loạn
Lấy tình người đổi oán bằng ân
Đem tiền, gạo phát cho dân
Gọi là bố thí ngay lần lên ngôi
Vua lại sai đặt ra thứ bậc
Để trao quyền cho thật phân minh
Lựa người tài giỏi nghề binh
Phong làm Thượng Tướng giữ gìn quốc gia
Vua lập ra bảy bà hoàng hậu
Là một điều nhiên hậu không ai
Sách phong thái tử truyền ngai
Nhật Tôn hoàng tử được ngài ban cho
Là một người nhân từ sáng suốt
Lại hiểu thông thao lược kinh luân
Sáu nghề lễ nhạc luật âm
Ngự văn, thư số cũng trang anh tài
Suốt một đời trên ngai hoàng đế
Bước trường chinh tế thế đông, tây
Ở ngôi hăm bảy năm đầy
Tám lần chinh phạt dạn dày phong sương
Đánh Trệ Nguyên chặn đường Tồn Phúc (1033)
Phạt Chiêm Thành qui phục nhân tâm (1039)
Dải dầu chín tháng hành quân
Chém đầu Sạ Đẩu, giết gần vạn binh (1044)
Vua xuống chiếu soạn thành bộ Luật
Ghi rõ ràng cho thật phân minh
Chia ra môn loại rành rành
Đâu là dân luật, luật hình, luật quân
Bộ Hình Thư được dân mong muốn (1042)
Bởi vì là thích ứng mọi nơi
Luật nghiêm lại hợp tình người
Công bằng đúng lẽ thuận trời, an dân
Tội gian dâm, tội đồ, hối lộ
Soạn thành văn lý số rõ ràng
Những ai làm việc lâu năm
Mà không có lỗi được thăng chức liền
Vua lại sai đóng thuyền cỡ lớn
Hạ thủy đầu chiến hạm Vạn An (1034)
Vinh Xuân, rồi chiếc Nhật Quang (1037)
Thủy quân cũng đóng vài trăm tiểu thuyền (1043)
Vua hạ lệnh đào kênh Đãn Nãi (1029)
Rồi lại sai vét đãi Lẫm Kênh (1050)
Đặt mốc, cắm biển đề tên
Chỉ đường, hướng lối kế bên vệ đường
Trạm Hoài Viễn để giường khách nghỉ
Xây trên bờ bên mé Gia Lâm (1035)
Tây Nhai mở chợ cho dân
Trên sông Tộ Lịch bắt ngang chiếc cầu
Lệ từ lâu, năm nào cũng thế
Vua thân hành tế lễ Thần Nông
Tịch điền ruộng đã cày xong
Nêu gương thiên hạ dốc lòng làm ăn
Vua lại dạy cung nhân dệt gấm (1040)
Phát trống kho gấm Tống làm quà
Từ đây sử dụng lụa nhà
Trong dân sản xuất ; của ta, ta dùng
Dạy Hoàn Vương chấp cung xét hỏi
Việc kiện thưa xử tội rồi tâu
Lại cho Thái tử coi chầu
Để nghe chính sự ngõ hầu ngày sau (1054)
Thuật dạy con bắt đầu như thế
Cho muôn đời lấy để làm gương
Tính vua đôi lúc bất thường
Thích nghe sấm ký khoa trương việc mình
Trong Cấm Thành buồn tình giải trí
Lập đoàn ca nhạc kỷ trăm người
Vào rừng Kha Lãm tìm voi
Dựng chùa Diên Hựu, xây đài chứa Kinh (1049)
Khắp đất nước thanh bình an lạc
Vua là người trầm mặc tinh thông
Tháng mười Giáp Ngọ, tiết đông (1054)
Trường Xuân vua mất đau lòng con dân
Là một người bội phần cơ trí
Việc quốc gia chăm chỉ sớm hôm
Tiếc rằng hay nói khoe khoang
Là người khai sáng mối nguồn về sau
LÝ THÁNH TÔNG (1054 - 1072)
ĐẠI VIỆT
Được ngôi cao : Thái Tông Hoàng Đế
Là Đông Cung thừa kế Nhật Tôn
Một người tâm tính ôn tồn
Thương dân, trọng việc lại còn lo xa
Đổi quốc hiệu thành ra Đại Việt (1054)
Lập lịch triều, kỷ yếu định danh
Gọi tên : Long Thụy Thái Bình
Sửa sang chính sự, dân tình an sinh
Lập Văn Miếu , nặn hình Tứ Phối
Những người hiền : Khổng Tử, Chu Công
Bẩy hai trò giỏi thờ chung
Là đất văn vật, tấn phong nhân tài
Ngoài cấm thành xây đài cao nhất
Đặt tên là Bảo tháp Báo Thiên (1054)
Mươi hai tầng đứng dính liền
Vươn cao chục trượng oai nghiêm vô cùng
Gặp tiết đông lúc trời lạnh giá
Thương người tù thiếu cả chiếu chăn
Gian, ngay chưa biết tỏ tường
Truyền cho ngục lại phát chăn để nằm (1055)
Xót dân tình phải chăng không biết (1064)
Nên nhiều khi làm việc lỡ lầm
Xử người như với người thân
Lấy điều khoan giảm gia ân cho người
Dân thiếu ăn, đức trời thừa thiếu (1075)
Tha thuế tô, một kiểu khuyến nông
Vua, Quan, Dân, lính một lòng
Giữ yên bờ cõi chẳng mòng riêng tây
Năm Kỷ Hợi lựa ngày Bắc phạt (1059)
Đánh Khâm Châu cả nước kinh hoàng
Biểu dương lực lượng vài hôm
Rồi cho triệt thoái truyền gom quân về
Đánh nước Tàu thị uy cho biết
Cũng bởi vì vua ghét Tống vương
Phản phúc dối trá dị thường
Nuốt lời binh viện đánh Nùng Trí Cao
Đánh Chiêm Thành răn vua Phiên trấn
Chúa Chămpa thất trận đầu hàng
Thế cùng Chế Củ xin dâng
Ba châu cắt đất xin nhường Thánh Tông
Vua bằng lòng tha cho Chế Củ
Cõi biên thùy uy vũ vang danh
Thu về Địa Lý, Ma Linh (1069)
Cùng châu Bố Chính trở thành đất ta
Tuổi bốn mươi, sinh ra con nhỏ (1066)
Vua rất mừng, trăm họ hân hoan
Có người nối dõi ngai vàng
Phong ngay thái tử , đăng quang sau này
Lý Thánh Tông có tài văn học (1056)
Làm minh văn cho đục trên bia
Cung thương sáng tác nghề kia
Phỏng theo nhạc khúc chẳng lìa âm Chiêm
Tiếng trống Chiêm vô cùng hấp dẫn
Điệu Pì dền khi bổng, lúc khoan
Tám mươi điệu trống Kỳ Nằng
Ri Nai khúc hát nhẹ nhàng vui thay
Nhân một hôm gặp ngày xuân nhựt (1063)
Dân hiếu kỳ nô nức tranh đua
Nhân ngài đi vãn cảnh chùa
Cố nhìn được mặt đức vua một lần
Chỉ riêng một, giai nhân tuyệt sắc
Không nhìn vua, nép mặt bên lan
Khiến vua làm lạ vô vàn
Vua cho võng kiệu để mang nàng về
Tên Ỷ Lan cũng vì tích đó
Là một người sắc sảo thông minh
Thay vua việc nước điều hành
Khi chồng sang đánh Chiêm Thành năm sau
Lý Thánh Tông tài cao nhân hậu
Coi việc dân , đạt thấu lẽ trời
Cơ đồ gánh vác trên vai
Bình Chiêm, phạt Tống trong ngoài vỗ yên
ThanhTam
16-09-2009, 07:27 AM
Quyển 5
LÝ NHÂN TÔNG HOÀNG ĐẾ (1072 - 1127)
Vua băng hà, con lên bẩy tuổi (1072)
Húy Càn Đức, miếu hiệu Nhân Tông
Lý Đạo Thành được sắc phong
Thái sự phụ chính để trông triều đình
Đổi niên hiệu Thái Ninh năm Tý (1072)
Bà buông rèm chính sự cùng nghe
Tranh quyền bức tử Hoàng Phi
Là Hoàng thái hậu đương thì họ Dương
Lý Đạo Thành lên đường biên trấn (1073)
Cũng chỉ vì can gián Linh Nhân
Giết người nào có ăn năn
Một rừng, hai hổ thiệt rằng khó thay
Việc triều chính trong tay Thái hậu (1072)
Nhân tiết xuân xuống chiếu tuyển sinh (1075)
Lựa người bác học minh kinh
Tam trường lều chỏng cho lưu danh với đời
Lê Văn Thịnh tên ngời bảng hổ
Được vời vào dạy dỗ cho vua
Thăng dần lên chức thái sư (1085)
Về sau tạo phản mưu đồ thí quân (1096)
Gia nô Thịnh là dân Đại Lý
Có thuật riêng kỳ bí quái chiêu
Tưởng rằng áp đảo làm liều
Nên chi suýt chết vì theo lũ này
Lý Nhân Tông một tay thư pháp (1118)
Nét rồng bay chữ khắc trên bia
Minh Văn mấy vận Đường thi
"Lãm sơn dạ yến" vườn khuya gảy đàn (1120)
Nước thanh bình thắt bông kết tụi
Khắp kinh thành mở hội hoa đăng
Đàm thi, giữa buổi xuân quang
Trong trời trắng xóa một màn tuyết rơi (1102)
Để có người xiển dương văn hiến
Lựa nhân tài hội tuyển chiêu sinh (1086)
Học theo Khổng Mạnh thánh hiền
Chuyên văn, luyện võ rạng danh nước nhà
Quốc tử giám mở ra luật mới
Cho những người biết chữ vào thêm
So tài giỏi, kém phân minh
Môn thi : Tính toán, luật hình học riêng (1086)
Mạc Hiễn Tích đề tên bảng yết
Bổ làm quan học sĩ hàn lâm (1086)
Về sau đi sứ mấy lần (1094)
Thay vua yên vổ quan quân Chiêm Thành
Cho lão thần được quyền ngồi tấu
Trời vào thu, ban áo các quan
Mùa xuân lập yến đãi đằng (1123)
Vua quan cùng sống thân bằng với nhau
Vua ra lệnh : giết trâu phạt trượng
Đến mùa xuân không đốn chặt cây (1126)
Cấm dùng gậy nhọn cầm tay
Cùng đồ sắt thép kết bầy đánh nhau
Để giao thông xây cầu, đắp lộ
Sửa kinh thành những chỗ hư hao (1078)
Đắp đê Cơ Xá thêm cao
Để ngăn nước lụt tràn vào kinh đô
Trong xây cất truyền cho nung ngói
Để lợp nhà tránh khỏi thiên tai
Hội đàm với sứ nước ngoài
Định xong cương giới đất đai rõ ràng (1084)
Vương An Thạch nghĩ rằng Đại Việt (1075)
Bị Chiêm Thành đánh giết hết quân
Bây giờ công phá một lần
Chắc rằng chiến thắng sẽ nằm trong tay
Vua Tống sai Lưu Di - Thẫm Khởi
Ngầm dấy binh yễm tại Quế Châu
Thuyền bè , quân dụng đưa vào
Cấm dân buôn bán ra vào nước ta
Biết ý đồ của nhà Bắc Tống
Thường Kiệt cho làm tướng điều quân (1075)
Tiến sang đánh trước Châu Khâm
Châu Liêm cô thế đầu hàng quân ta
Tướng Ung Châu tên là Tô Giám
Cố thủ thành, không dám động quân
Bốn mươi ngày cố cầm chân
Cuối cùng lương cạn phải dâng nộp thành
Ta bắt sống dân binh mười vạn
Phá chiến hào san phẳng môn quan
Làm cho dân Tống bàng hoàng
Trước sức công phá dễ dàng của ta
Vào tháng ba (1076), Tống cho Phủ Sứ
Đến Chiêm Thành phủ dụ Nam Man
Tống quân , Chân Lạp họp bàn
Bao vây Đại Việt dọn đường tiến quân
Chúng liên minh tạo xong thế trận (1076)
Hai gọng kìm , dưới tấn đánh ngang
Quách Quỳ Chiêu Thảo sứ quân
Đem theo chín tướng , vài trăm chiến thuyền
Lại cho thêm viên quan Triệu Tiết
Làm Phó Tướng dồn hết quân sang
Khí tài, lương thực sẵn sàng
Lựa ngày xuất phát lên đường tấn công
Lý Thường Kiệt chận sông Như Nguyệt (1076)
Rải phục binh thề quyết tới cùng
Đánh tan lũ giặc tàn hung
Tả tơi vó ngựa, cong lưng chạy dài
Tương truyền rằng lúc xây rào chắn
Dọc theo sông để chống đại binh
Thì nghe có tiếng trong đền
Thần nhân Khiếu - Hát lời truyền như sau :
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
Quả nhiên ứng nhiệm thiên cơ
Dân ta đã đuổi kẻ thù bắc phương
Lý Thường Kiệt giám quan trong Nội
Lại là người danh nổi ngoài biên (1076)
Nức tài người phá Tống bình Chiêm
Chính người viết bản văn tuyên để đời
Năm Giáp Thân ở nơi biên trấn (1104)
Quân Chiêm Thành xâm lấn nước ta
Vua Chiêm là Chế Ma Na
Đem quân đòi lại đất nhà trước đây
Vua vội sai tướng quân Thường Kiệt
Trổ oai thần đuổi hết giặc Man
Thu hồi toàn vẹn giang sơn
Bắt Chiêm phải cống mấy năm một lần
Lý Nhân Tông không con nối nghiệp
Nuôi Dương Hoán để thế ngôi mình (1117)
Hoán người đĩnh ngộ thông minh
Phong làm thái tử thay mình mai sau
Trong tiết thu vào năm Đinh Dậu (1117)
Ngày qua đời Thái hậu Ỷ Lan
Tổ chức hỏa táng quốc tang
Chôn theo hầu gái, hỏa đàn thiêu thân
Nghe biên giới phỉ quân quấy nhiễu
Vua vội vàng xuống chiếu viễn chinh
Rợp trời cờ xí tinh binh
Thảo ra kế hoạch tự mình điều quân
Bến Thiên Thu lừng vang tiếng trống
Đoàn chiến thuyền rẽ sóng vạch sương
Đánh tan, bắt sống Ngụy Bàng
Dẹp yên các động dọc đường quan sơn
Cho tịch thu bạc vàng, tơ lụa
Cùng trâu dê, thóc lúa, bò heo
Tù binh bắt được đem theo
Vua tha không giết làm điều hiếu sinh
Ngày cuối cùng biết mình sắp chết (1127)
Vua nói rằng : "Bỏ việc xây lăng
Lễ tang giản dị khiêm cần
Giảm phần nghi lễ cho dân khỏi phiền
Ta : nhiều năm đã lên nối nghiệp
Nhiệm vụ thì chưa kịp làm xong
Nay thời đến phút lâm chung
Ta lo Thái Tử chưa thông việc triều
Nhờ Thái úy phải theo phò tá
Coi Ấu Vương , Trẫm đã giao cho
Vì dân giữ vững cơ đồ
Còn ta, lăng mộ đơn sơ nhẹ nhàn"
Ngày vua băng sao sa sấm hiện
Năm Đinh Mùi ở điện Vĩnh Quang (1127)
Thái tử thọ lễ đăng quang
Quỳ bên linh cữu đang quàng nơi đây
Bỏ cõi đời nghìn thu vĩnh việt
Gió lạnh lùng khi tiết đông sang
Ngậm ngùi đi, ở lẽ thường
Sáu ba năm ấy đoạn trường một phen
(thọ 63 tuổi)
LÝ THẦN TÔNG (1128 - 1138)
Lý Thần Tông nguyên niên Thiên Thuận (1128)
Thái úy Lê giúp rập lên ngôi
Làm vua vào tuổi mười hai
Hưởng dương quá mỏng, đức tài cũng không
Việc triều chính do công Thái Úy
Đám bề tôi thì chỉ nịnh vua
Đem vàng bạch với hưu, rùa (1129)
Dâng lên Hoàng Thượng để mua vui lòng (1137)
Từ hoạn quan, Vương Công, Tể Tướng
Toàn một bầy nghễn ngãn tham lam
Vua thì mê tín dị đoan
Vừa mới mười bảy tuổi có con để bồng
Vua xuống chiếu : Lấy chồng phải đợi (1130)
Đẹp xinh thì tuyển tới cung đình
Những cô xấu xí ngoại hình
Thì vua không tuyển mặc tình tự do
Lý Thần Tông vô lọ kém cỏi (1134)
Lại dâm bôn để dưới lộng quyền
Lân bang Chân Lạp vạ Chiêm (1137)
Thường hay quấy nhiễu ven biên nước mình
Trong kinh thành vua ra chiếu chỉ
Mỗi ba nhà quản lý lấy nhau
Nếu không kiễm soát trước sau
Thì cùng liên đới cũng như tội hình
Lịnh ban ra rùng mình sởn óc (1137)
Tạo nghi ngờ tang tóc trong dân
Suy đồi hỗn loạn nhân tâm
Gây thêm chia rẽ quân dân bấy giờ
Biết thời cơ nước đang hỗn loạn
Quân Chiêm Thành tiến đánh nước ta
Chúng vào đánh cướp Đổ Gia (1128)
Bảy trăm thuyền chiến tiến qua vùng này
Lý Công Bình có tài trấn áp (1137)
Chận Chiêm Thành, Chân Lạp mấy phen
Dụng binh quân pháp rất nghiêm
Nhờ ông đất nước giữ nguyên cõi bờ
Ở kinh thành cũng như biên trấn
Nhiều năm liền hạn hán triền miên (1138)
Vua thì đau ốm liên miên
Bao nhiêu quyết định dưới quyền thái sư
Thuở bấy giờ Thần Tông tại thế
Vua ra nhiều chiếu chỉ oái ăm (1128)
Dựa vào tiền của đem dâng
Mà ban chức tước quan hàm đất đai
Năm Bính Thìn (1136) khi khai đất ở
Hương Lãnh kinh tìm thấy chuông xưa
Đó là di chỉ đồng sơ
Của nền văn hóa có từ ngàn năm
Phá Tô Lăng , tướng người Chân Lạp
Đem quân vào trấn áp Nghệ An (1137)
Làm dân khiếp đảm kinh hoàng
May mà cứu viện dẹp tan tức thì
Lý Thần Tông ham mê tiền bạc
Việc triều đình để mặc các quan
Biên thùy giăc cướp dọc ngang
Quốc gia bất ổn lại càng khổ thêm
LÝ ANH TÔNG HOÀNG ĐẾ (1138 - 1175)
Tân Hoàng đế húy tên Thiên Tộ
Lên làm vua tuổi độ lên ba (1138)
Mẫu thân : Cảm Thánh lệnh bà
Được phong thái hậu cũng là người gian
Mấy năm sau bốn phương loạn lạc
Triệu Trí Chi khoát lác xưng vương (1140)
Sau Đàm Hữu Lượng làm càn (1144)
Sách dân, quấy nhiễu biên cương một thời
Lý Anh Tông tuổi đời non nớt
Bao nhiêu điều việc nước việc dân
Đều do Thái Úy Đại Thần
Một tay quyết định lấn dần quyền vua
Đỗ Anh Vũ thế thừa làm ẩu (1150)
Lại tư thông Thái Hậu họ Lê
Gian dâm trong chốn phòng the
Giữa triều khoác lác chẳng hề nể nang
Sai quan thường hất hàm ra hiệu
Vung tay lên như kiểu côn đồ
Nội cung tự tiện ra vô
Quần thần hãi sợ, giả đò làm ngơ
Điện Tiên Đô chỉ huy : Vũ Đái
Cùng đại thần khẳng khái bắt giam
Lũ quan hối lộ, tham lam
Thông dâm thái hậu lại làm ô danh
Tội rành rành phải đem xử trảm
Quan Nguyễn Dương tấu bẩm xử liền
Nhưng vì Vũ Đái tham tiền
Chỉ phạt Thái Úy làm điền nhi thôi
Thái hậu đòi Phục quyền Anh Vũ
Cho y làm chức cũ như xưa (1150)
Y bèn núp bóng sau vua
Bức người đến chết, trả thù tới nơi
Y hạ lịnh cho người khủng bố
Làm kinh thành ngạt thở khắp nơi
Cấm không tụ họp ba người (1150)
Cấm không đi lại chê bai triều đình
Lịnh khủng bố kéo dài liên tục
Cho đến khi Anh Vũ lìa đời (1164)
Bàn dân thiên hạ khắp nơi
Thở phào nhẹ nhõm khỏi loài sói lang
Tô Hiến Thành được làm đại tướng (1161)
Bên cạnh vua chỉnh đốn việc triều
Được vua rất mực kính yêu
Ngoại giao ( 1163) nội trị nhiều điều sửa sang
Vua nước Tống vào năm Bảo Ứng (1164)
Sai sứ sang đem tặng Anh Tông
An Nam chiếu chỉ sắc phong
Đổi tên Giao Chỉ để hòng dụ ta
Nền ngoại giao giửa ta và Tống
Suốt nhiều năm chẳn động can qua
Giử tình lân quốc hiếu hòa
Bán buôn hai nước vào ra dể dàng
Với các quan : Đặt khoa khảo thí (1162)
Cứ chín năm thanh lý một lần
Thăng quan tiến chức lên dần
Giúp người trung chính lập thân dễ dàng
Vua đi tuần những nơi hiểm yếu
Bởi vì người muốn hiểu ý dân (1171)
Hình sông, thế núi xa gần
Bảng đồ ghi chú, phiên thần lân bang (1172)
Vua học bắn xạ trường dựng bảng (1170)
Khuyên các quan võ tướng hằng ngày
Chuyên lo huấn luyện cho hay
Phép công phá trận lại bày ra ôn
Nơi đảo xa Vân Đồn lập trại
Cho thuyền buồm đi lại giao thương
Xiêm La, Lộ Lạc cũng thường
Trảo Oa cũng đến bán hàng cho ta (1149)
Vua quyết định không tha Thái Tử (1174)
Long Xưởng người cư xử vô luân
Làm điều trái đạo bất nhân
Thông dâm cùng với phi tần của cha
Lệnh ban ra phong cho Long Trát
Nối nghiệp nhà ký thác truyền ngôi
Đông Cung Thái Tử lập rồi
Quyền nhiếp chính sự , triệu vời Tô Quân
Tô Hiến Thành được vua phó chúc (1175)
Giao con mình cho bậc đại thần
Dốc lòng phò tá Ấu Quân
Một người trung nghĩa cầm cân giữa triều
Vua băng hà, vâng theo di chiếu
Tô Hiến Thành rước kiệu tân quân
Lên ngôi hoàng đế chăn dân
Chăm lo chính sự, sửa sang mọi đàng
LÝ CAO TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1176 - 1210)
Hiệu Trinh Phù vua ban cho nước
Việc triều đình các cấp cân phân
Tháng giêng năm đó Bính Thân (1176)
Đại xá thiên hạ bàn dân làm đầu
Nơi biên trấn diệt đồ giặc cướp
Việc triều đình từng bước sửa sang
Vua, quan nhiệm vụ rõ ràng
Chia làm ba bậc quan trường biểu nghi
Mời giáo thụ dạy vì Ấu Chúa
Cáo trong dân để lựa nhân tài
Sửa sang luật pháp cho ngay
Lập trường dạy học giúp người mở mang
Tô Hiến Thành bỗng mang bạo bệnh
Thương cho ông mới đến giữa đường
Bao nhiêu kế hoạch dở dang
Không ai nối tiếp theo gương của người
Khi lâm chung có người đến hỏi
Ai là người thay chổ của ông ?
Lựa người lương đống tôi trung
Vì nước tiến cử không hàm ơn riêng
Đỗ An Di nắm quyền Phụ Chính (1179)
Cũng ra tay bình định biên cương
Chọn người tài giỏi, hiền lương
Giúp lo việc nước tìm đường cứu dân
Giặc nhiễu nhương muôn phần khốn đốn
Thêm thiên tai bất ổn triền miên (1181)
Đói to, người chết liền liền
Chết luôn một nửa, khi nguyên cả làng (1208)
Thóc chẩn cấp vua ban cứu đói
E sợ rằng cướp lại nổi ra
Gieo xong vụ lúa tháng ba
Dần dần ổn định vượt qua hiểm nghèo
Năm Ất Tỵ vua treo yết bảng (1185)
Chiêu hiền tài hương đảng thôn lân
Nghe đồn, sĩ tử xa gần
Mang lều, vác chỏng dự phần ghi danh
Bùi Quốc Khái đã giành đầu bảng (1185)
Đỗ khoa này vào khoảng ba mươi
Văn hay, võ giỏi chọn người
Vào hầu vua học ngay nơi điện rồng
Đàm Sĩ Mông được phong thái phó (1190)
Đất nước này từ đó điêu linh
Trùng tu lại Điện Vĩnh Ninh
Đào sông Tô Lịch ngoại thành Thăng Long(1192)
Đàm Sĩ Mông vốn không kiến thức
Lại là người nhu nhược trí ngu
Để cho triều chính rối mù
Quốc gia phân hóa cơ đồ tan hoang
Vua càng lớn lại càng biếng nhác
Mãi rong chơi , quên nước quên nhà
Ham tiền , trở thói trăng hoa
Lún sâu chìm đắm khó đà thoát ra
Năm Mậu Thìn tháng ba đói lớn (1208)
Xác của người từng đống gối nhau
Trong triều yến tiệc ra vào
Ngoài kia dân chết vua nào biết chi
Lấy thú vui cầm kỳ, thi tửu
Rủ trướng đào khúc múa Chiêm nương
Tối ngày nhã nhạc xên xang
Chế ra khúc nhạc muôn vàn thương tâm
Điệu Chiêm thành tiếng ngâm ai oán
Đàn Kha Nhi nghe thảm, nghe thương
Mủi lòng sầu rúc giây buông
Hồn đau tiếc nuối ngậm buồn nghìn năm
Đàn như tiếng thì thầm vạn kiếp
Khèn như lời nuối tiếc thương hờ
Khúc Chiêm xé ruột thẫn thờ
Cao Tông lại chế tiếng hồ, tiếng thanh
Trong cấm thành tàn canh chưa đã
Ở ngoài biên giặc giã nổi lên
Vua quan một lũ tham tiền
Lâu đài cung điện xây riêng cho mình (1203)
Nước tan tành, dân tình ly tán
Rất nhiều nơi ta thán vua quan
Lại nghe sàm tấu bắt giam
Giết người vô tội, dân càng oán thêm
Bọn Quách Bốc giận đem quân đến (1209)
Xông vào thành quyết chém hôn quân
Cao Tông hoảng vía bạc hồn
Cùng con tháo chạy tới Đông Bộ Đầu
Bốc vào thành cùng nhau phế lập
Đưa Hoàng tử tên Sám lên ngôi
Sĩ Mông, Chính Lại được ngồi
Vào cương vị cũ như thời Cao Tông
Phế Vương chạy ra sông Quy Hóa
Thái tử thì phải quá Lưu Gia (1209)
Được nhà Trần Lý đón qua
Giúp vua dựng lại sơn hà từ đây
Nhưng vua vốn là tay kinh suất
Việc triều đình phó mặc các quan
Lại tham lắm của, nhiều vàng
Gây thù kết oán với hàng vương thân
Ngày vua băng vào năm Canh Ngọ (1210)
Thái tử Sám nhân đó lên ngai
Kiến Gia niên hiệu mới thay
Sai thuyền đi đón vợ này ở xa
LÝ HUỆ TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1211 - 1224)
Cho thuyền rồng đi nhanh để đón
Trần Thị Dung về chốn kinh sư (1211)
Cùng đi còn có Trung Từ
Nguyên Phi ban chức chiếu thư sẵn sàng
Cho anh vợ đảm đang việc nước
Trần Tự Khánh phong tước Thành hầu
Rồi phong Thái úy năm sau (1216)
Sửa sang việc nước từ lâu rối mù
Còn Trần Thừa phong làm Phán Thủ (1216)
Ở trong cung phục vụ hoàng gia
Mon men đến việc nước nhà
Lên chức Phụ Chính đứng ra điều hành
Giặc Đoàn Thượng tung hoành ngang dọc (1212)
Dựa thời cơ cướp bóc lương dân
Quân Chiêm đánh phá Nghệ An (1216
Lại thêm Nguyễn Nộn tiếm phần, xưng vương (1220)
Nước thì loạn trăm đường khốn đốn
Kho quân lương hao tổn quá nhiều
Vua thì mắc bệnh hiểm nghèo
Tâm thần phân liệt đủ điều bi ai (1217)
LÝ CHIÊU HOÀNG (1224 - 1225 )
Vua không có con trai nối dỏi
Bèn truyền cho hoàng nữ lên ngôi (1224)
Tháng mười , Chiêu Thánh thay người
Vua bèn xuống tóc , bỏ đời đi tu
Vua xuất gia ở chùa Chân giáo
Bỏ Vương Y, mặc áo nâu sồng
An vui tự tại trong lòng
May ra căn bệnh tâm thần được yên
Lý Chiêu Hoàng vừa lên bảy tuổi
Được Điện tiền Thủ Độ trông coi (1224)
Đem người hậu hạ bên ngài
Ông cho Trần Cảnh trong vai người hầu
Bọn trẻ con rất mau kết bạn
Thường bày trò chạy trước, cản sau
Nhưng nào chúng có ngờ đâu
Mưu cơ , Thủ Độ trong đầu nghĩ ngay
Phải nhanh tay chiếm liền ngôi báu
Bằng mọi đường cho dẫu gian manh
Viết tờ chiếu chỉ nhân danh
Chiêu Hoàng, Trần Cảnh trở thành uyên ương
Lễ nhường ngôi Chiêu Hoàng cho Cảnh (1225)
Được tiến hành trong điện Thiên An
Vua ban chiếu chỉ rõ ràng
Nhường cho Trần Cảnh , ngai vàng từ đây
Đổi niên hiệu chọn ngày mười một
Xuống chiếu rằng đại xá toàn dân
Phong cho Thủ Độ đại thần
Là Quốc Trượng Phụ đỡ đần bên vua
Triều nhà Lý, chín vua tất cả
Trải hai trăm mười sáu năm già
Kể từ Công Uẩn tính qua
Đến đời Chiêu Thánh cũng là khá lâu (1010 - 1225)
Hai trăm năm xôn xao một vẽ
Sân cung đình bóng quế trần gian
Cột chùa một nét bút son
Cũng là định mệnh vô thường đó chăng ?
Nhất bát công đức thủy
Tùy duyên hóa thế gian
Quang quang trùng chiếu chúc
Một ảnh nhật đăng san
Cơ đồ nữa mãnh trăng tan
Tử sinh rồi cũng qua đường trầm luân
ThanhTam
16-09-2009, 07:28 AM
Quyển 6
TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN ( 1225 - 1413 )
TRẦN THÁI TÔNG HOÀNG ĐẾ (1226 - 1258)
Kỷ nhà Trần bắt đầu ghi dấu
Kể từ năm Ất Dậu nguyên niên
Thái Tông Trần Cảnh nắm quyền
Được Chiêu Hoàng đế đã truyền ngôi cho
Hiệu Kiến Trung kể từ dạo đó
Qua năm sau phế bỏ Thượng Hoàng
Pháp Danh đổi gọi Huệ Quang
Mượn nơi cửa Phật tìm đường nương thân
Chùa Chân Giáo một lần hội ngộ
Độ thấy vua nhổ cỏ ngoài sân
Bèn quay nhắn một lời rằng :
"Nhổ cỏ phải nhổ cả thân rễ này"
Hiểu ý ngay âm mưu của Độ
Y muốn rằng bức tử mình đây !
Vua bèn treo cổ lên cây
Sau chùa Chân giáo trước ngày trung thu.
Đem Thái Hậu gả cho Thủ Độ
Vua bất kể đó chổ bà con
Khởi đầu một kiểu loạn luân
Chị em trong một họ Trần lấy nhau !
Thập kỷ đầu, trên ngôi cửu ngũ (1225 - 1235)
Việc an dân tất cả đều do
Một tay Thủ Độ bấy giờ
Toàn quyền quyết định, bày trò đặt ra
Tiền Tĩnh Bách tung ra khắp nước (1226
Mọi giấy tờ muốn được làm tin
Lăn tay, điểm chỉ mà in
Vào trong đơn viết hai bên đã làm
Lệ hàng năm, lễ thần Đồng Cổ (1230)
Họp vua quan máu nhỏ ăn thề
Truyền cho Tư pháp lập ty
Đặt tên Bình Bạc xét về kiện thưa
Cho cải biên "Quốc Triều Thống Chế" (1230)
Viết "Quốc Triều Thường Lễ" mười pho
Soát xem từ trước tới giờ
Lễ nghi, luật lệ, sửa cho hợp thời
Mở khoa thi chọn người trí thức (1232)
Chọn những ai đáng bực tài danh
Tháng hai, vào đúng năm Thìn
Trương Hạnh, Lưu Diễm xướng danh bản tiền
Đệ nhị giáp : Đặng Diên, Trình Phẩu
Còn Đệ tam : Chu Phổ họ Trần
Quốc Miếu húy chữ đã ban
Để cho dân biết vương mang chữ này
Lời Thủ Độ năm xưa đã rõ
Nhân vào ngày cúng giỗ Tiên Vương (1232)
Tổ chức ở chốn Thái Đường
Mời người họ Lý bốn phương trở về
Trần Thủ Độ sai đi đào hố
Phủ đất rồi dựng ở bên trên
Lể đài hương án trang nghiêm
Giật cho đất sụp giết nguyên mọi người
Qua năm sau tháng hai Giáp Ngọ (1234)
Thượng Hoàng băng vừa độ thu sang
Di hài táng ở Thọ Lăng
Rồi cho Trần Liễu đảm đương chức này
Vua ra lệnh cho xây cung điện
Truyền sai người vét giếng đào kênh
Sổ Dinh rà soát lại xem
Khảo thi tam giáo , sửa đình trùng tu
Triều nhà Trần, thói hư khó nói
Việc đầu tiên là tội loạn luân
Anh em chú bác xa gần
Chị dâu, em rể gió trăng phải lòng
Việc Thái Tông lấy vợ Trần Liễu
Là đề tài đàm tiếu trong dân
Còn Trần Thủ Độ bất cần
Vào năm Ất Dậu. lấy luôn chị mình
Chuyện : " Trần Liễu vào thành khải tấu
Nhân đi ngang nhìn thấy cung phi
Động lòng chó lợn đòi khi
Dở trò nham nhở Liễu đè cưỡng dâm
Còn Trần Cảnh tà tâm làm tới
Cướp vợ anh vừa mới mang thai
Khiến cho Trần Liễu hận đời
Kéo quân hỏi tội cái loài sói lang
Trong đời tư, mười phần xấu hổ
Nhưng việc triều lại tỏ minh quân
Chỉnh trang phép nước mấy lần
Cải cách thuế khóa khép dần vào khuôn (1242)
Việc binh bị tuyển quân khỏe mạnh (1246)
Mở thao trường dạy đánh kiếm côn
Khảo bài để chọn văn quan
Lựa người tài đức để chăm dân tình
Có lần vua, thân chinh đi đánh
Dồn binh về phía cánh Châu Khâm
Đánh sâu vào trại Như hồng
Châu Liêm sau cũng lọt vòng quân ta
Người nước Tống bỏ nhà bỏ cửa
Chạy trốn về theo ngõ môn quan
Quan, quân nước Tống thất thần
Chăn ngang xích sắt chặn đường quân ta
Năm Dần , Nước chia ra thành Lộ (1242)
Trong toàn quốc có tới mười hai
Dưới là xã, sách rạch ròi
Đặt chức An, Trấn , giử coi mối giềng
Lụt vỡ thành Đại La tháng tám (1243)
Rồi tiếp theo cơn hạn tháng tư
Đắp đê quai vạc để lo
Ngăn dòng nước lũ tuông vô kinh kỳ
Vào mùa thu mở thi tiến sĩ (1247)
Lệ bảy năm khảo thí một lần
Bốn tám người đỗ học sanh
Họ Lê, họ Đặng riêng giành tối ưu
Lê Văn Hưu danh lưu Bảng nhãn
Đặng Ma La vào hạng Thám hoa
Tam khôi giờ mới phân ra :
Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa rõ ràng
Năm Tân Hợi vua ban bài viết (1251)
Cả một chương về việc dạy con
Dạy về cung, kiếm, lương, ôn
Dạy về hòa, tốn , nhớ lòng hiếu trung
Tết nguyên đán vui chung đình đám
Cho diễn trò triển lãm để xem
Kết hoa, hội chợ, treo đèn
Trai thanh gái lịch xem nguyên bảy ngày
Cũng năm này, toàn dân Mông Cổ
Tôn Mông Kha làm chủ Trung Nguyên
Em Kha chiếm hết toàn miền
Vân Nam, Đại Lý thuộc quyền ngoại Mông
Trần Thái Tông sắc phong Lưu Thủ
Cho Nhật Hiệu trấn giữ đất xa
Kinh thành biên ải phòng xa
Vua thân thống lĩnh như là tướng quân
Cuối mùa đông vào năm Nhâm Tý (1252)
Bộ Da La vợ quý Chiêm Thành
Bị ta bắt sống một mình
Lúc ta đánh chiếm hành dinh nước này
Vua hạ lệnh đổi thay quân kỷ
Xuống chiếu mời lực sĩ trong dân
Võ đường, côn kiếm luyện gân
Mở quốc tử giám lập trường giảng kinh
Huy động người vét kinh xây đập
Lo kiện toàn bồi đắp đê sông
Hà đê Chánh phó bố phòng
Cho dân mua lại ruộng công cấy cày (1254)
Xuống chiếu sai vét sông Tô Lịch (1256)
Mở khoa thi khuyến khích người hiền
Quốc Lặc chấm đỗ Trạng Nguyên
Chu Hinh Bảng nhãn, tiếp liền Thám hoa
Quân Mông Cổ dần dà chiếm cứ
Suốt Trung Nguyên cho tới Vân Nam
Nguyên cho sứ giả đi sang
Giữa năm Ất Tỵ dụ hàng đức vua
Vào mùa thu, tin từ Quy Hóa (1257)
Báo về triều sứ đã tới nơi
Nói năng ngạo nghễ lắm lời
Vua bèn hạ lệnh trói tay giam liền
Chọn ngày lành trung tuần tháng chín
Thủy, bộ quân gởi đến biên thùy
Giao cho Quốc Tuấn chỉ huy
Vòng đai phòng ngự trấn vì dọc biên
Vua lại truyền sắm thêm vũ khí
Trữ quân lương chuẩn bị sẵn sàng
Đợi quân của tướng Ngột Lương
Lọt vào cửa tử dọc đường Cà Giang (1258)
Bình Lê Nguyên, bẫy giương đợi giặc
Sông bên này san sát ngựa voi
Quân Nguyên vừa kéo tới nơi
Bị ta mai phục đánh lui bọn này
Triết Triệt Độ, cho người qua trước
Còn Hoài Đô chậm bước theo sau
Quân ta chận đánh đón đầu
Địch lâm vào thế ra vào chẳng xong
Phía hạ lưu giặc đông như kiến
Lính nhà Trần vẫn tiến đánh sang
Dụ cho chúng đến cùng đường
Đột nhiên đánh úp cắt ngang toán này
Vua nhà Trần đổi ngay chiến lược
Cắt đội hình từng bước ém quân
Địa bàn Cự Bản lui dần
Sông Lô án ngữ mấy trăm chiến thuyền
Đại quân Nguyên thấy liền khuyết điểm
Nhắm thuyền Vua cung tiễn bắn sang
May mà lúc đó Lê Tần
Gan lì chịu đựng quay ngang mạn thuyền
Rồi lấy khiên đưa lên đỡ đạn
Để mình rồng khỏi chạm phải tên
Cho quân chèo rút thật êm
Xuôi về Phù Lỗ cho truyền lệnh ngay
Vua lo lắng gặp ngay Nhật Hiệu
Hỏi kế sách giải quyết tình hình
Ông này ngậm miệng làm thinh
Lấy tay chấm nước viết thành nữa câu
Vua trông thấy chữ đầu : "Nhập Tống"
Vừa thoạt trông thất vọng vô cùng
Chưa gì tính chuyện bại vong !
Làm sao xứng đáng với lòng dân yêu ?
Ngài lập tức dời thuyền đến hỏi
Quan Thái sư Thủ Độ thưa rằng
"Chưa rơi xuống đất, đầu thần
Kính mong Bệ Hạ bình tâm như thường"
Mưu cướp thuyền vô phương thành tựu
Tướng Ngột Lương trách cứ Triệt Đô
Tên này vừa sợ, vừa lo
Uống liều thuốc độc để cho xong đời
Ngày hôm sau vua sai phá sập (1258)
Cầu Phù Lỗ đã bắc qua sông
Chận đường giặc đuổi tấn công
Lập ra phương án Thăng Long rút về
Trước thế giặc đang bề hưng phấn
Quân nhà Trần lẩn tránh giao tranh
Dụ cho địch đuổi chạy quanh
Hao hơi, nhọc sức chúng đành dừng quân
Ở Thăng Long, quân Trần bỏ trống
Bốn cửa thành vắng bóng Tứ Sương
Linh Từ Quốc Mẫu lên đường
Đem theo Thái Tử, cùng hàng thân vương
Cả một đoàn con quan, vợ tướng
Theo Lịnh bà về hướng Đông Nam
Xuôi dòng Thiên Mạc rẽ ngang
Chọn nơi hiểm yếu tìm đường lánh thân
Mười hai ngày quân Trần bị đánh
Lệnh rút về ổn định quân binh
Lựa lúc tốc đánh thình lình
Tập kích địch hoảng bỏ thành thoát thân
Đông Bộ Đầu bày quân bố trận
Cho người vào thám thính mặt sau
Biết rằng địch đã tiêu hao
Thiếu lương quân đói và đau khá nhiều
Truyền Thái Tử đem theo lính thủy
Thọc cạnh sườn đánh quỵ hậu quân
Lâu thuyền bám sát bên chân
Đuổi theo lưng địch đến gần Vân Nam
Đường tháo chạy đi ngang Qui Hóa
Ta tập kích ở giữa khoảng này
Giặc Nguyên hỗn loạn loay hoay
Bị quân Hà Bổng giáng ngay mấy đòn
Thua nhục nhã vội vàng che đậy
Đổ lỗi rằng bên ấy Phương Nam
Sơn lam chướng khí quanh năm
Muỗi mòng uất nhiệt khí âm nặng nề
Giặt thất trận trở về nhếch nhác
Thân ngựa què lại vác thương binh
Tìm đường chạy trốn lấy mình
Còn đâu nghĩ chuyện đốt thành cướp lương
Dân ta diễu gọi phường "giặc Phật"
Kiểu kêu này nghe thật mỉa mai
Mới qua hung dữ tác oai
Khi về thất trận chạy dài... hiền khô !!!
Về kinh đô sau ngày chiến thắng
Đất nước ta sạch bóng quân thù
Sửa sang cung điện như xua
Xây thêm thành lũy, đình chùa miếu lăng
Ngày mồng một đầu năm Mậu Ngọ (1258)
Trước triều đình vua ngự trên ngai
Điểm danh công tội từng người
Nhớ ơn tử sĩ lập đài ghi công
Xuống chiếu phong Đại phu ngự sử
Cho Lê Tần vì đã có công
Và khen Hà Bổng hết lòng
Giữ yên biên giới trấn phong cõi ngoài
Gả Chiêu Hoàng cho quan Ngự sử
Trần Thái Tông không kể tình thâm
Chung chăn, chung gối, bao năm
Vợ mình chịu để ăn nằm với ai !
TRẦN THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1258 - 1278)
Vào một ngày tháng hai, năm Ngọ
Vua truyền ngôi, nhường chỗ cho con
Thánh Tông năm ấy vừa tròn
Tuổi lên mười tám đủ khôn với đời
Lễ nhường ngôi cho Hoàng Thái Tử
Lui về nhà ở tại Bắc Cung
Con tôn lên chức Thượng Hoàng
Trông coi chính sự chung cùng với con
Xuất gia rồi lên non Yên Tử
Gột lòng trần vui thú kệ kinh
Thành tâm sám hối đời mình
Đời như bóng nước, vô minh đắm chìm
Cửa thiên môn đã quen hôm trước
Bữa tương chao ở trốn Trúc Lâm
Thái Tông lùng kiếm cái tâm
Viết thành Phổ Thuyết Sắc Thân để truyền
Tam thời trần liễm thiên biên tử
Nguyệt lạc tường giang dạ kỷ canh
Ngôi cao những bước gập ghềnh
Mượn màu thiền đạo giúp mình định tâm
Mười chín năm đi tìm bến Giác
Chuyện triều đình ủy thác cho con
Chuyên tâm nghiên cứu Thiền Tông
Đến năm Đinh Sửu Thái Tông băng hà
Ráng trời chiều sương sa mặt nước
Gió trầm luân một bước thế gian
Có không trở giấc kê vàng
Khoanh tay có được vô thường hay chăng ?
Ngồi ở trên ngai vàng Hoàng Đế
Là Trần Hoảng lên thế Thái Tông
Đổi thành niên hiệu : Thiên Long
Lo cha yên vị , lập cung riêng mình
Thánh Tông sinh vào năm Canh Tý
Là một người có chí, có nhân
Tôn hiền, trọng đạo, thương dân
Kế thừa cơ nghiệp nhà Trần về sau
Hăm mốt tuổi cầm đầu đất nước
Vua đã đi những bước vững vàng
Xiển dương văn hóa dân gian
Chỉnh trang quân đội, lo toan quốc phòng
Việc hành chánh chưa thông, phải sửa
Khắp mọi vùng đều mở Thái y (1261)
Nơi nơi đều có trạm, ty
Chăm lo sức khỏe cấp kỳ cho dân
Lấy những người tinh thông nghề nghiệp
Tôn làm thầy hướng dẫn dạy dân
Khuyến nông trồng trọt chuyên cần
Lập phường, lập hội ngày dần phồn vinh
Để tôn vinh những người cao tuổi
Thượng hoàng bày một buổi tiệc to
Lão ông ban tước hai tư
Lão bà được tặng lụa vua đề dành
Việc giáo dục ưu tiên tối thượng (1272)
Lấy đạo Nho làm hướng trị dân
An sinh xã hội đang cần
Đem lời Khổng Mạnh để răn mọi người
Định qui chế tuyển người làm việc (1275)
Phải tinh thông, chữ viết cho nhanh
Nghề nào, nghiệp đó phải rành
Mới cho bổ nhậm trong thành, ngoài biên
Lại xuống chiếu chiêu hiền đãi sĩ
Mở khoa thi định lệ hằng năm
Chọn người vào viện Hàn Lâm
Lựa ai tài giỏi nhiệt tâm để dùng
Dạy Đông cung mời thầy uyên bác
Thông Ngũ kinh, làu thuộc Tứ Thư
Chọn người đức hạnh có thừa
Hiểu thông Phật giáo lại vừa Minh kinh
Lê Văn Hưu vốn rành lịch sử (1272)
Đại Việt Sử vừa mới viết xong
Ba mươi quyển ấy gồm chung
Viết từ Triệu Vũ đến năm Chiêu Hoàng
Năm Bính Dần nhà vua xuống chiếu (1261)
Cho vương hầu, công chúa khai hoang
Mộ dân cày cuốc mở mang
Phá rừng, khẩn đất lập thành điền trang
Chia binh lính ra thành đội ngũ (1267)
Chọn Tôn thất nghề võ thật tài
Một Đô gồm tám mươi người
Quân gồm ba chục Đô này vừa đông
Cho tập trận nơi sông Bạch Hạc
Lại sai người chế tác gươm đao
Đóng thêm thuyền chiến để vào
Góp phần dự trữ khi nào giao tranh
Để biết thêm nội tình của địch
Vua ngầm sai tình báo sang Nguyên
Thế Quang mượn cớ đi tìm
Thu mua thảo dược mà đem về dùng
Vào mùa đông tháng mười Giáp Tuất (1274)
Ba mươi thuyền Trung Quốc ghé vô
Xin vua lánh nạn rợ Hồ
Nhai Tuân cấp đất lưu cư tạm thời
Hốt Tất Liệt sai người sang dụ
Vua liền sai chánh sứ mang thư
Sang Nguyên thông hiếu đáp từ
Phụng Công, Nguyễn Thám công du chuyến này
Năm Kỷ Mùi, Linh Từ Quốc Mẫu (1259)
Người từng là Hoàng Hậu Huệ Tông
Đến khi Thủ Độ loạn luân
Lấy ngay kẻ ấy làm chồng về sau
Bỏ Huệ Tông là điều bất nghĩa
Theo thái sư thất tiết tất nhiên
Nhưng là mẹ của Thuận Thiên
Nên chi vua phải đương nhiên gọi : Bà
Năm năm sau khi bà vừa thác
Trần Thủ Độ cũng bước qua đời (1264)
Tỏ lòng ngưỡng mộ với người
Thái Tông chế tác một bài văn bia
Triều nhà Trần sống quen thành lệ (1268)
Cùng họ Trần có thể lấy nhau
Hoàng gia khi đã bãi chầu
Vào trong cung điện, sân sau lan đình
Trong cung cấm linh đình yến tiệc
Rồi cùng nhau ăn uống no nê
Khi nào trời tối không về
Vào trong ở lại giường kề ngủ chung
Lúc thong dong thơ văn xướng định
Bạn của ngài Tuệ Tĩnh thiền sư
Vua làm hai quyển Di thư
Sách "Di hậu lục" dạy cho con mình
Chọn ngày lành nhường ngôi hoàng đế
Cho con mình thái tử Trần Khâm
Tháng mười ngày tốt, năm Dần (1278)
Lui về phủ đệ dành phần cho con
ThanhTam
16-09-2009, 07:29 AM
Quyển 7
TRẦN NHÂN TÔNG (1278 - 1293)
Trần Nhân Tông con bà Thiên Cảm
Là cháu ngoại Từ Thiện Đại Vương
Xiển dương sự nghiệp trùng hưng
Nhân từ hòa nhã, hết lòng vì dân
Người cũng đã hai lần chiến đấu
Và hai lần chiến thắng quân Nguyên
Xứng danh là đấng vua hiền
Có công đánh dẹp giữ yên cõi bờ
Để đo đạc vua ban thước gỗ (1280)
Khắp mọi miền một cỡ mà thôi
Pháp đình xử án đúng, sai
Đặt ra "kiểm pháp" biết ngay rõ ràng(1280)
CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG NGUYÊN MÔNG
LẦN THỨ HAI NĂM 1285
Năm Nhâm Ngọ, Bình Than đại hội (1280)
Vua bàn kế phòng thủ, phản công
Khánh Dư, phó tướng được phong (1282)
Quốc Toản còn nhỏ nên không được bàn
Lòng hổ thẹn, sôi gan tuổi trẻ
Tay anh hùng bóp vỡ quả cam
Trở về chiêu mộ ngàn quân
"Phá cường địch, báo hoàng ân" quyết thề
Thuyền tiểu tướng xông lên mũi sóng
Bóng cờ vàng lồng lộng gió bay
Quân Nguyên trông thấy chạy dài
Nam quân thắng lợi kể ngay phút đầu
Lễ tấn phong Đại vương Quốc Tuấn (1283)
Làm tiết chế thống lĩnh toàn quân
Duyệt binh ở tại bến Đông
Truyền nơi xung yếu phải cần chỉnh trang
Điện Diên Hồng bốn phương về họp(1284)
Để toàn dân cùng góp một lời
Ý dân biểu hiện ý trời
Là Hòa hay Chiến muôn người cùng hô
Một tiếng hô ta thề quyết chiến :
Với kẻ thù quyết đánh một phen
Toàn dân cùng một lời nguyền
Thề rằng phải đuổi quân Nguyên ra ngoài
Trần Di Ái được sai đi sứ(1281)
Đến nước người thì lại phản vua
Đem theo quân giặc trở về
Sài Thung Nguyên sứ coi bề hung hăng
Lại nghe rằng Toa Đô sửa soạn
Năm mươi vạn tiến thẳng phương Nam (1282)
Giả vờ hỏi tội Nam Man
Thực ra là để mượn đường xâm lăng
Trần Hưng Đạo điều quân các lộ (1284)
Ở Hải Đông , cửa ngõ Vân Trà
Theo thuyền vượt biển ngang qua
Vào nơi Ba Điễm Sơn Trà cực Nam
Tướng Mông Cổ vào năm Nhâm Ngọ (1282)
Là Toa Đô đổ bộ Chiêm Thành
Chiến thuyền cùng với thủy binh
Tấn công thành gỗ vây quanh Đồ Bàn(1283)
Pháo ba cần cản đường quân giặc
Dựa thế rừng vây chặt Nguyên Mông
Giằng dai đã mấy tháng ròng
Giặc Nguyên đang ở thế cùng cạn lương
Vờ giả hàng, chúa Chiêm sai sứ
Bảo rằng thưa : Quốc chủ đến sau
Nay sai Bảo Thoát sang chầu
Chế Mân thế tử sẽ hầu vào sau
Một mặt khác, vua cầu cứu viện (1282)
Cử sứ sang Đại Việt, Bồ Đà
Lân bang Chân Lạp cũng qua
Liên minh hợp lại để mà chống Nguyên
Cứu nước Chiêm trong cơn nguy biến
Vua nhà Trần gởi viện binh sang (1284)
Hai mươi vạn lẻ mấy ngàn
Năm trăm thuyền chiến lên đàng cứu nguy
Giặc Nguyên Mông đang lo nơm nớp
Đợi viện binh trong lúc thế cùng
Quân Chiêm, Đại Việt phản công
Toa Đô bí thể buộc lòng lui quân (1284)
Hốt Tất Liệt điều quân để đánh
Bảo Toa Đô phải lánh dưỡng binh
Vào đất Ô Lý, Chiêm Thành (1284)
Tạm thời ẩn nấp sẽ truyền lệnh sau
Xuống chiếu giao lấy người phụ tá
Cho con mình thế tử Thoát Hoan
Lên đường tiến chiếm phương Nam
Lập ra kế hoạch ăn loang vết chàm
Quân xâm lược chia làm ba cánh (1285)
Mũi tiến công là cánh Tư Minh
Vân Nam là cánh viện binh
Toa Đô từ hướng Chiêm Thành đánh lên
Theo kế hoạch truyền liền mật lệnh
Cùng một lúc ba mũi tiến công
Vạn Kiếp nhanh chóng chiếm xong (1285)
Vượt sông qua đánh Thăng Long tức thời
Giặc chiếm ngay kinh thành bỏ trống
Đốc đại quân tổng tấn công ta
Đà Mạc giặc đã tràn qua
Bắt Trần Bình Trọng đưa ra dụ hàng
"Nếu thuận theo : làm vương đất Bắc
Bằng không thì, sẽ giết làm gương"
"Ta thà là quỷ nước Nam
Còn hơn phản quốc làm vương xứ người"
Giặc tức quá giết người khí tiết
Sai quân về đem tiếp viện thêm
Toa Đô từ dưới đánh lên
Kẹp quân ta giữa ba bên bốn bề
Vua sai Dương ra đi xin hoãn (1285)
Xin cầu hòa, cốt được bãi binh
Để làm dịu bớt tình hình
An Tư công chúa hiến mình dâng cho(1285)
Trước thế nước nguy cơ bại trận
Trần Nhân Tông hỏi vặn Đại Vương :
"Thế nào !" - Hưng Đạo tâu rằng :
"Chặt đầu thần trước, sẽ hàng giặc sau"
Chương Hiến Hầu ra hàng quân giặc
Chiêu Quốc Vương bắt chước theo sau
Ích Tắc, Lê Diểu cùng nhau
Đem theo gia thuộc ra đầu Toa Đô
Trần Nhật Duật, thái sư Quang Khải
Cùng lên đường quay ngược về kinh
Tây kết, Quốc Tuấn dàn binh
Cắt đức liên lạc vây quanh kẻ thù
Cửa Hàm Tử thừa cơ tập kích
Cùng Triệu Tung đánh địch chạy dài
Trần Thông, Quốc Toản dương oai
Chương Dương thừa thắng đuổi ngay khỏi thành
Quân Thoát Hoan bỏ thành trốn chạy
Để lại gần hết thảy binh lương
Bị quân Hưng Đạo chắn ngang
Gặp ngay Quốc Toản cắt đường rút lui
Đến Vạn Kiếp tìm nơi xoay trở
Bắc cầu phao tạm đỡ qua sông
Cầu phao lại gãy nửa chừng
Giặc Nguyên chết đuối vô cùng thảm thương
Ta phục kích dọc đường giặc chạy
Quân chúng còn chỉ mấy ngàn binh
Rút về theo hướng Tư Minh
Thoát Hoan chạy đến Vĩnh Bình gặp ngay
Hưng Vũ Vương con trai Hưng Đạo
Chận trên đường cầm giáo chắn ngang
Ống đồng giặc giấu Thoát Hoan
Tìm phương tẩu thoát chạy sang bên Tàu
Ùn ùn sau quân Nguyên tán loạn
Tướng Lý Hằng trúng phải mũi tên
Tên đâm mà chẳng chết liền
Cõng về đến ải, Lý bèn tắt hơi
Một cánh khác rút lui theo hướng
Về Phù Ninh tạm đóng giữa đường
Bị quân Hà Đặc đánh luôn
Tàn quân Mông Cổ tìm đường thoát thân
Ở Tây Kết quân Trần vây hãm
Tổng quản Nguyên thế cạn đầu hàng
Toa Đô chi xiết bàng hoàng
Cánh quân thủy bộ lại càng rối ren
Ô Mã Nhi leo thuyền chạy lẹ
Còn Toa Đô lại bị chém đầu
Tiểu Lý cố gắng theo sau
Biết rằng khó thoát, kéo nhau ra hàng
Cuộc xâm lăng thế là thất bại
Hai vua Trần trở lại Thăng Long
Quan dân, binh lính một lòng
Cùng chung ý chí chung lưng diệt thù
Khúc khải hoàn thiên thu còn đó
Thái bình tu nỗ lực nước non
Chương Dương cướp giáo hãy còn
Nghe trong Vạn Cổ dậy hồn núi sông
Tự đáy lòng tướng Trần Quang Khải
Làm bài thơ để lại như sau :
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san
Bốn câu mà đến ngàn năm
Vẫn còn phản phất chiến công vang lừng
CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG NGUYÊN MÔNG
LẦN THỨ BA NĂM 1287
Dù thất bại giặc Mông chưa bỏ (1286)
Mộng xâm lăng, còn cố phục thù
Sứ sang bàn bạc : trả tù
Nhân cơ hội đó thăm dò nước ta
Vua xuống chiếu kiểm tra hộ khẩu
Để điều nghiên hiểu thấu dân tình
Hưng Đạo : vua giao việc binh
Đại Vương Đức Việp cho quyền Quốc sư (1287)
Hốt Tất Liệt phong cho thế tử (1286)
Nắm trọn quyền quân thứ binh lương
Quân chia ba đạo lên đường
Khâm Châu tập kết sẵn sàng vượt sông
Ngày Bính Ngọ, Thoát Hoan vừa đến (1287)
Ở Lộc Bình thẳng tiến Đông, Tây
Ào ào chỉ có bốn ngày
Khắp vùng Vạn Kiếp đã đầy quân Nguyên (1288)
Cánh Vân Nam dưới quyền Tây Hạ
Sáu nghìn quân cũng đã sẵn sàng
Vượt qua Bạch Hạc, Phú Lương
Hội quân Vạn Kiếp mở đường thọc sâu
Ô Mã Nhi, Khâm Châu vượt biển
Với năm trăm thuyền chiến dàn quân
An Ban đánh bạt quân Trần
Hai quân thủy, bộ giặc gần gặp nhau
Đến điểm hẹn mặt sau Vạn Kiếp (1288)
Giặc Nguyên Mông xảo quyệt ranh ma
Xây thành đắp lũy để mà
Biến thành cứ địa vào ra dễ dàng
Sai Lưu Uyên đem quân đánh tới
Lấn chiếm vùng quanh núi Chí Linh
Dựng lều che trại, đắp thành
Làm kho dự bị để dành chứa lương
Lương cướp được trên đường sục sạo
Bốn mươi ngàn thạch gạo của dân
Tạm thời cứu vãn nuôi quân
Chờ Trương Văn Hổ đã gần tháng qua(1288)
Ở Thăng Long quân ta thất thế (1288)
Bỏ kinh thành rút đến Hám Nam
Bày binh bố trận cọc ngầm
Đợi khi quân giặc ăn dần hết lương
Nơi Vạn Kiếp đặc đương nao núng
Còn vua Trần : Trúc Động điểm quân
Khi ẩn, khi hiện như thần
Khiến cho tướng giặc bội phần lo âu
Chiến tranh để tiêu hao kẻ địch
Giặc yếu dần co xích gần nhau
Gióng cờ phía trước đánh sau
Đánh cho đất thảm, trời sầu mới thôi
Ban đêm giặc chẳng rời khỏi trại
Đợi sáng trời mới lại ra quân
Thiếu ăn, quân số hao dần
Đúng ngày Nhâm Ngọ rút quân chạy về
Khí thế giặc bốn bề tan rã
Lo phận mình tướng tá đòi lui
Thoát Hoan chán nản ngậm ngùi
Tiến lên chẳng nổi thối lùi không xong
Ba năm trước ống đồng tháo chạy (1285)
Nỗi hận này còn cháy trong tim
An Tư công chúa trước rèm (1284)
Lần này e chết nơi miền đất xa (1288)
Giặc muốn rút đường qua trắc trở
Đám tàn binh lại ở thế cùng
Trần kênh vách núi lưng chừng
Dưới sâu vực thảm, cây rừng chắn ngang
Bạch Đằng Giang còn vang thuở trước (1288)
Hàng cọc ngầm đáy nước trồi lên
Đâm xuyên ván thủng chiến thuyền
Thuyền úp, giặc chết ngửa nghiêng sóng dồi
Trương Ngọc chết Mã Nhi bị bắt (1288)
Tích Lê Cơ xin được đầu hàng
Quân nhu bỏ lại đầy đường
Quân ta thu được mấy ngàn thuyền lương
Giặc Mông Cổ cùng đường đại bại
Bạch Đằng Giang làm bãi chôn quân
Vua Nguyên căm giận bội phần
Ba lần xâm lược, ba lần trắng tay
Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân
Là lời nhắn của vua Trần
Dành cho lủ giặc hung tàn Nguyên Mông
Hốt Tất Liệt vô cùng giận dữ
Đày con mình thế tử Thoát Hoan (1289)
Dương Châu đất trích dặm ngàn
Chung thân chốn ấy khó toan trở về
Cuối tháng ba quay về chốn cũ (1288)
Cả kinh thành bị phá tan hoang
Đền đài kể cả Chiêu Lăng
Âm hồn phản phất hương tàn nam giao
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ diện kim âu
Non sông ngàn thuở về sau
Chiến công Mậu Tý (1288) đi vào sử xanh
Vua xuống chiếu giảm thêm thuế má
Lệnh truyền ra đại xá cho dân
Cử ngay phái bộ sứ thần (1288)
Sang Nguyên xin được giải phân mọi điều
Ô Mã Nhi vâng theo giao ước(1289)
Trao trả về lại nước Trung Hoa
Đời vay có lại có qua
Dùi thuyền , chết đuối cũng là oan khiên
Vua Thánh Tông trong niềm cảm hứng
Viết bài thơ đến tận hôm nay
Đọc lên như ngỡ bên tai ….
Chiến công hiễn hách của người năm xưa
Cảnh thanh u , vật diệc thanh u
Thập nhất tiên châu , thử nhất châu
Bách bộ sơn ca, cầm bách thiệt
Thien hàng nô bộc quất thiên đầu
Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự
Thủy hữu thu hàmthiên hữu thu
Tứ hãi dĩ thanh trần dĩ tĩnh
Kim niên du thắng tích niên du
Theo chiếu vua định công dẹp giặc (1289)
Kết án loài phản trắc, nước đôi
Ghi ơn công trạng từng người
Trung Hưng Thực Lục vua sai vẽ hình (1289)
Trong chiến tranh người Nam kẻ Bắc
Cũng có người theo giặc xin hàng
Đến khi đất nước bình an
Nhân bắt hòm biểu xin hàng trước kia
Thượng hoàng sai đốt đi tất cả (1289)
Để yên lòng những kẻ phản vua
Định công luận tội lựa cho
Mỗi người mỗi cảnh mà chưa được dùng
Năm Canh Dần, đầu xuân xuống chiếu(1290)
Đánh Ai Lao áp đảo Nam Di
Cất quân chinh phạt thị uy
Lân bang kiếp vía man di xin chừa
Gặp nạn đói mở kho chẩn cấp(1290)
Thuế dân đinh bỏ bớt đi nhiều
Thăm dân để biết dân kêu
Lấy quan văn học để điều tới nơi
Thuật dùng người khó ai bằng được
Lấy công bằng làm thước mà đo
Lấy nhân lấy nghĩa mà cho
Sửa sai phép nước trước giờ còn đang ... (1292)
Xuống chiều rằng hễ làm văn tự (1292)
Thì chép thành hai thứ bản sao
Của người một bản ta trao
Người kia giữ một ịn vào làm tin
Việc xữ phạt nghiêm minh đúng luật
Dân được quyền thắc mắc điều chi
Trống đình , quan phải lắng nghe
Tiếng dân khiếu nại phải ghi rỏ ràng
Trong cuộc chiến vì dân giữ nước
Có nhiều người dáng được lưu danh
Như là con của Yên sinh
Đại Vương Quốc Tuấn điều binh diệt thù
Vua phong cho Quốc công tiết chế(1283)
Thống lĩnh quân tìm kế bày mưu
Chọn binh , quân hiệu hổ phù
Chỉ huy , tác chiến dể hồ mấy ai
Cho ra đời Binh Gia Yếu Lược
Sách đầu giường cho các tướng quân
Hịch tướng sĩ một ánh văn
Là lời tuyên chiến viết bằng máu xương :
1-Ta thường nghe : Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao đế, Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở cho Chiêu Vương, Dự Nhượng nuốt than báo thù cho chủ. Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước. Kỉnh Đức, một chàng tuổi trẻ thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây, Thế Sung, Cảo Khanh một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa khí, bỏ mình vì nước, đời nào không có ? giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được !
Các người con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây.
Vương Công Kiên là người thế nào ? Tì tướng của ông là Nguyễn văn Lập lại là người thế nào ? Mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu, đuờng đường chống với quân Mông khá đông đến hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân đời nay còn đợi ơn sâu ! Cốt Đài Ngột Lang là người thế nào ? Tì tướng của ông là Xích Tu lại là người thế nào ? Mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại được quân Nam Chiếu trong vài tuần khiến cho quân trưởng đời Nguyên, đến nay còn lưu tiếng tốt !
2- Huống chi ta cùng các người sinh phải thời loạn lạc lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường. Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng thamkhông cùng, giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng để vét của kho có hạn.Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau ?
Ta thường tới bửa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.
3- Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì.
Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng hoặc quyến luyến vợ con, hoặc lo việc làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh, dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quí ngàn vàng khôn chuộc. Vả lại, vợ bíu con ríu, việc quân cơ trăm sự ích chi, tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, tacùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các người cũng mất, chẳng những gia quyến của ta bị tan mà vợ con các ngươi cũng khốn, chẳng những xã tắc tổ tông ta bị dày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khõi mang tên là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không ?
4- Nay ta bảo thật các ngươi : Nên nhớ câu "đặt mồi lửa vào dưới đống củi" là nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm răn sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập được cung tên khiến cho người ngươì giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rửa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc của các ngươi cũng đời đời hưởng thụ, chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão, chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm, chẳng những thân ta kiếp này đắc chí mà đến các người trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền, chẳng những danh hiệu của ta không bị mai một mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ dẫu các ngươi không muốn vui vẻ, phỏng có được không ?
5- Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là "Binh thư yếu lược". Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta thì mới phải đạo thần chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù.
Vì sao vậy ? Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi sau đây sau khi giặc đã dẹp yên muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa ? Ta viết ra bài hịch này để các người biết bụng ta.
Bài hịch đó cũng là tuyên bố
Cho mọi người thấy rõ toàn dân
Chung lưng đoàn kết quây quần
Quyết tâm sắc đá đánh tan giặc ngoài
Có nhiều người trở thành danh tướng
Như Yết Kiêu , Dã Tượng , Khắc Chung
Đỗ Hành , Man trưởng một lòng
Tất Năng , Quang Khải cùng chung chiến hào
Trần Quang Khải cầm đầu chính phủ (1271)
Theo Thánh Tông đánh lũ Nguyên Mông
Một người học thức uyên thâm
Biết nhiều tiếng nói sắc dân ít người
Để lại đời tập thơ Lạc Đạo
Lời khẩu khí in dấu chiến công
Vì dân phục vụ hết lòng
Trông coi việc nước chẳn mòng việc riêng
Trần Khánh Dư nắm quyền thủy lộ
Dù không ưa vua cứ tin dùng
Phục kích đánh trận Vân Đồn
Bắt nguyên tướng giặc , thuyền lương khí tài
Bài đề tựa do tay Dư viết
Cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư
Đó là binh pháp trận đồ
Của Trần Hưng Đạo soạn cho các nhà
Dư cũng nhà đầu cơ có hạng
Tính tình thì sống sượng tham lam
Đã cùng công chúa thông dâm
Đầu cơ tích trử món hàng Ma Lôi
Biết bao người anh hùng tử sĩ
Góp máu đào sá kể lưu danh
Sẳng sàng xông trận hy sinh
Bọc thây da ngựa hiến mình vì dân
ThanhTam
16-09-2009, 07:29 AM
Quyển 8
TRẦN ANH TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1293 - 1314)
Thái tử Thuyên lên ngôi hoàng đế (1293)
Vào tháng ba, Quý Tỵ cuối xuân
Hưng Long niên hiệu tân quân
Bắt ngay vào việc điều quân biên phòng
Giặc động binh ở vùng biên giới
Sứ Lương Tằng đã tới Thăng Long
Đem thư cùng chiếu sắc phong
Dụ rằng cho gọi Anh Tông sang chầu
Vua ta giao Tử Kỳ đi sứ
Qua Trung Nguyên giữ mối bang giao
Nói rằng lấy cớ bị đau
Nên không đi được sang chầu vua Nguyên
Hốt Tất Liệt, tháng giêng tạ thế (1294)
Nên mưu đồ về việc xâm lăng
Phải đành bỏ cuộc giữa chừng
Tử Kỳ lại được Thành Tông trả về
Luật nhà Trần mỗi khi đánh bạc
Kẻ bất tuân bị phạt tới cùng
Có quan thượng phẩm Nguyễn Hưng
Bị vua đánh chết để răn mọi người
Quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu
Đã bốn lần thanh tảo Man Di
Phạm Ngũ Lão : hai lần đi
Một lần Trương Hiển chết vì khi quân
Trương Hiễn vốn tướng quân Mông Cổ
Đã đầu hàng , xin ở nước ta
Vua ban tước phẩm lụa là
Tuyễn vào quân đội , điều ra biên phòng
Hiển tử trận được phong Minh Tự
Đưa cho vào thờ ở Thái Thường
Tỏ lòng với kẻ hiền lương
Ban cấp chu đáo khói hương từ đường
Xuống chiếu cho sĩ nhân được biết (1299)
Ôn luyện bài để kịp kỳ thi
Định ra mũ áo nhung y
Cho quan văn võ phân chia tỏ tường (1300)
Lệnh vua ban soát tù các trại (1301)
Thả ngay ra kẻ tội hàm oan
Và cho thông báo rõ ràng
Về cách thi cử, biểu chương thế nào
Về phép thi khởi đầu Ám Tả
Kế đến là kinh nghĩa, kinh thi
Đề thơ, theo luật, phú ghi
Thứ ba : Chế chiếu , biểu quy thư đồ
Kỳ thứ tư là thi đối sách
Hỏi luận đề về bảy khoa riêng
Mạc Đĩnh Chi đậu trạng nguyên
Bùi Mộ bảng nhãn ghi danh từng người
Nguyễn Trung Ngạn đổ ngay hoàng giáp(1304)
Đổ khoa này hơn khoảng ba trăm
Đương thời gọi Ngạn thần đồng
Cũng tay xuất chúng nằm chung bảng vàng
Rước về làng , vinh qui bái tổ
Cho ba người ra cửa Long Môn
Để cho dân chúng được dòm
Những người giỏi nhất nước Nam bấy giờ
Nguyễn sĩ Cố làm thơ quốc ngữ
Khởi đầu cho thơ phú sau này
Là người có óc khôi hài
Được vời vào giảng những bài Ngũ kinh
Còn người nữa nức danh kim cổ
Là Đĩnh Chi tướng mạo khó xem
Có lần đi sứ sang Nguyên
Vì tài ứng đối vua Nguyên muốn dùng
Năm Kỷ Hợi Thượng Hoàng lên núi (1299)
Chốn thiền môn một cõi am mây
Pho kinh tràng hạt trên tay
Đầu Đà khổ hạnh ngày ngày tịnh tâm
Núi Yên Tử, lan rừng mấy đóa
Chim hót mừng bên Ngọa Vân Am
Phù sinh ảo ảnh ngàn năm
Phất phơ khóm trúc, thì thầm suối reo
Bỏ việc đời, men theo hành đạo
Đất Chiêm Thành một dạo dừng chân (3001)
Thượng Hoàng gặp gỡ Chế Mân
Trong lòng muốn gả Huyền Trân cho chàng
Năm Bính Ngọ, vừa tròn tháng sáu
Phái đoàn Chiêm làm lễ rước dâu
Thớt voi, kiệu rước quân hầu
Cung nhân, cờ quạt trước sau đàng hoàng
Vua Chế Mân dâng châu Ô Lý
Làm lễ vật dẫn cưới Huyền Trân
Nhữ Hài cử đến coi dân
Đổi thành Thuận , Hóa thuộc phần đất ta
Chế Đa Da là con công chúa
Sai sứ thần báo tử về kinh
Tháng năm vua của Chiêm Thành
Trong cơn bạo bệnh thình lình tử vong
Vua sai ông Đặng Vân cùng với
Trần Khắc Chung qua tới nước Chiêm
Lựa lời biện bạch đưa linh
Để đem công chúa xuống thuyền hồi loan (1306)
Một mưu toan nhắm vào triều đại
Rằng công chúa cùng với Khắc Chung
Trên thuyền họ đã tư thông
Lênh đênh cả mấy tháng ròng trước khi…
Nếu tính kỷ chi li mới thấy
Thì Huyền Trân lúc ấy mới sinh
Thời gian hậu sản đang hành
Đớn đau , bầm dập gập gềnh sóng xô ….
Vào mùa thu , Thượng hoàng thánh hóa ( 1308 )
Ngài đã băng ở Ngọa Vân Am
Đem về táng ở Long Hưng
Phải dùng đến khúc Long Ngâm dẫn đường
Mười năm sau Chế Mân tạ thế
Huệ Võ Vương đánh chiếm Chiêm Thành
Lao vào một cuộc viễn chinh
Trên đường nam tiến quên tình thông gia
Đoàn nhữ Hài vượt qua tới trước
Dùng quỷ kế dụ bắt Chiêm Vương ( 1312 )
Đem về giam ở Gia Lâm
Nam sau vương chết lể tang trà tỳ (1313 )
Dân Chiêm Thành trong khi chạy loạn
Chế Đà A trốn đến Qua Oa
Người thì mất mẹ chết cha
Lạc luôn Thế tử con bà Huyền Trân
Vua Anh Tông cầm cương trị nước
Người thông minh mực thước nhân hòa
Việc triều luôn duyệt xem qua
Truyền ngôi vào giữa tháng ba Giáp Dần (1314 )
Thơ để lại "Thủy Vân tùy bút"
Lúc băng hà sai đốt hết đi
Đến khi long thể lâm nguy
Nhà sư Phổ Huệ nằn nì xin vua
Ngài gạt phăng vì sư nói đến
Chuyện tử sinh ảnh hưởng tới ngài
Sư chưa chết , tại sao hay ?
Không nên nói đến chuyện này với ta
TRẦN MINH TÔNG ( 1314 - 1329 )
Nối nghiệp cha là thái tử Mạnh
Đổi niên hiệu Đại Khánh năm đầu ( 1314 )
Triều đình sắp đặt trước sau
Đề phòng hạn hán vua giao từng người (1315 )
Với bề trên một đời tôn kính
Đối kẻ dưới được tiếng nhân hòa
Một người trung hậu lo xa
Trong yên, ngoài phục quốc gia thái bình
Vua biết đem văn minh nối tiếp
Làm rạng danh cơ nghiệp người xưa
Tiếng đồn vang thuở bấy giờ
Tiếc rằng không biết mưu người giết oan
Năm Mậu Ngọ Đại vương Quốc Chẫn ( 1318 )
Chỉ huy quân đi đánh Chiêm Thành
Túc hầu Tất Kiến hy sinh
Sau nhờ Ngũ Lảo tung binh chận đường
Phạm Ngũ Lảo người làng Phù Ứng
Từng nỗi danh đại tướng đánh Nguyên
Giúp vua bình định nước Chiêm
Một người phóng khoáng dụng binh như thần
Ông có làm bài thơ để lại :
Bốn câu thôi ; Khí khái trượng phu
Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu
Tam quân kỳ hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liểu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
Lời thơ vào cỏi thiên thu
Như lời nhắn nhủ gởi cho những người
Thuật dùng người theo tài của họ
Đó là cách chỉ có đời Trần
Tùy theo trách nhiệm đảm đương
Mà giao chức vụ cho quan trong triều
Quan trong triều như là Phạm Mại
Đổ thiên Hư , Phạm Ngộ , Đỉnh Chi
Nhữ Hài , Lê Quát , Lê Duy
Hán Siêu , Sư Mạnh và nhiều người hay
Trần Thì Kiến cũng tay tầm cở
Lê Cư Nhân , Nguyễn Dử giúp vua
Xiễn dương văn học bấy giờ
An sinh xã hội , hiến mưu giúp đời
Trần Khắc Chung một người khôn khéo
Lại về phe vu cáo giành ngôi
Nghe theo Văn Hiến để rồi
Tâu vua giết bậy, hại người trung quân
Trần Khắc Chung vốn giòng họ Đỗ
Vì có công được đổi họ Trần
Thăng quan tiến chức lên dần
Có công đem được Huyền Trân trở về
Bọn quan lại chia bè kết đảng
Chúng bắt đầu lũng đoạn nhà vua
Hán Siêu, Hài, Ngạn theo hùa
Khắc Chung, Văn Hiến mưu đồ việc riêng
Tướng Đại Niên là người Đại Việt
Năm Bính Dần lãnh việc đánh Chiêm ( 1326 )
Giao tranh cả mấy tháng liền
Cuối cùng bại trận phải đành lui quân
Để công bằng sửa sang luật pháp
Phạt nặng người cưỡng đoạt ruộng tư
Với người giả mạo văn từ
Chặt đứt ngón trái cho chừa thói gian
Đối với ruộng mà đang ngậm sữa
Việc kiện thưa sẽ xử như sau
Người cày được một nửa đầu
Nửa phần còn lại ngày sau sẽ bàn (1323)
Vào mùa hạ tháng năm Tân Dậu (1321)
Vụ lúa Chiêm , bắp đậu được mùa
Năm sau củng được bội thu
Nhân dân an lạc ấm no thái bình
Đồng tiền kẽm ban hành trong nước
Dùng bán buôn đổi chác trong dân
Năm sau xuống chiếu lại rằng :
Bỏ đồng tiền kẽm thay bằng tiền khoen
Một vụ án do tên Trần Phẩu
Được dựng lên vu cáo Đại Vương
Vương là em ruột Thượng Hoàng
Định làm phản loạn mưu toan chiếm quyền
Năm Mậu Thìn đem ra xét xữ
Cả trăm người đều có liền can
Đa số họ đã kêu oan
Riêng phần Quốc Chẩn biệt giam , giết liền
Quan nhà Nguyên tranh chấp biên giới
Vua sai Bang Hiến tới Nam Kinh
Lựa lời tranh biện phân minh
Để cho hai nước tình hình bớt căn
TRẦN HIẾN TÔNG ( 1329 - 1341 )
Năm Kỷ Tỵ (1329), Hiến Tông lên thế
Thay cha mình hoàng đế Minh Tông
Hoc rành nẫy mực cầm cân
Xiễn dương đất nước cho dân , cho người
Vua lên ngôi mới vừa mười tuổi
Và băng hà ở tuổi hăm ba
Ngự chầu việc nước có cha
Điều hành chính sự nước nhà giùm con
Ở dưới đời Hiến Tông Hoàng đế
Có mấy điều đáng kể như sau :
Một là đi đánh Ai Lao
Hai lần xung trận, và thua một lần (1334)
Chỉ huy quân, Nhữ Hài đốc tướng (1335)
Bị phục binh hai hướng giáp công
Tiết La, giặc ém bên sông
Nhữ Hài bị nhử lọt vòng bao vây
Khi giao chiến Nhữ Hài chết đuối
Đó nhằm năm AᴠHợi đầu thu(1335)
Quân ta trận đó thua to
Năm sau rút hết trở về kinh sư
Đổ thiên Hư xin theo đánh địch
Lâm bệnh nặng bị chết giửa đường
Thượng hoàng làm lấy tiếc thương
Sắc cho dùng nhạc Thái Thường nghi tang(1335)
Cho lập kho dùng sàn chứa thóc (1337)
Phòng đói nghèo chẩn cấp cho dân
Lại sai xét xử việc quân
Thải hồi những kẻ sâu dân , biếng làm (1337)
Trần Nhật Duật thọ gần bảy bảy(1330)
Được tin dùng trải bốn đời vua
Một người nổi tiếng giao du
Với người ngoại quốc bấy giờ ít ai
Làm tể tướng vua sai tiếp khách
Tiếng nước ngoài kiến trác với nhau
Ngũ cung, biến tấu đôi câu
Thi, thư, vũ nhạc dạy đào uốn tay
Ông cũng người hiền tài đức hạnh
Chưa bao giờ thấy đánh gia nô
Lại đem đức hiếu nhân từ
Trước răn kẻ dưới dặn dò quan binh
Trần Khánh Dư đã từng phó tướng
Cũng lìa đời vào khoảng cuối thu (1339)
Là năm lịch đổi theo vua
Lung linh khảo nghiệm định giờ chẳng sai
Vua khen Dư có tài trí lược
Nhưng là người không có nhân tâm
Dám cùng công chúa thông dâm(1282)
Đầu cơ tích trữ, tham lam quá chừng (1287)
O⮧ từng nói : "Chim ưng là tướng
Vịt là dân chả đáng bận tâm
Nuôi vịt là để chim ăn
Có gì lạ lạ mà bàn tới lui !"
Vua giận lắm tước ngay chức tước
Đuổi về nhà làm đứa bán than
Nhân lúc thuyền ngự đi ngang
Vua thương cảnh ấy cho làm việc quân (1282)
TRẦN DỤ TÔNG ( 1341 - 1369 )
Vừa Tân Tý (1341) vua băng năm đó
Thượng Hoàng cho em nhỏ Hiến Tông
Tên là Trần Hạo nối dòng
Đổi ra niên hiệu Thiệu Phong năm đầu (1341)
Mẹ Hiến Từ, cha là Trần Mạnh
Vua Dụ Tông bị bệnh liệt dương (1339)
Loạn luân với chị trên giường (1351)
Vì Trâu Canh đã dâng phương thuốc này
Cha bên cạnh chỉ bày việc nước
Việc triều chính coi được êm xuôi
Đến khi cha đã qua đời (1357)
Trổ mòi dâm loạn ăn chơi hết điều
Cũng năm đó Hán Siêu, Trung Ngạn
Bộ Hình Thư biên soạn vừa xong
Dâng vua cùng với sách phong
HOÀNG TRIỆU ĐẠI ĐIỂN để dùng mai sau
Từ Nhâm Ngọ (1345) đến sau năm Dậu
Những đổi thay ghi dấu thế này "
Có năm hạn hán lâu ngày (1343)
Có năm lụt lội vỡ đài sạt đê(1359)
Dân đói kém coi bề khốn đốn (1343, 1344 , 1345)
Tên Bảo Vy lấy trộm áo vua (1347)
Giặc thì nổi dậy lu bù (1343)
Năm nào cũng có mất mùa , hạn to
Vua xuống chiếu soát tù giảm tội
Lập đồn điền đặt sở khuyến nông
Duyệt quân, tảo giặc, an dân
Đánh tan Ngô Bệ ở gần núi Yên (1345)
Những năm đó Trung Nguyên loạn lạc
Giặc nổi lên trộm cướp nhiễu nhương
Hữu Lượng đánh với Nguyên Chương
Xưng hùng xưng Bá xưng Vương bên Tàu
Đảo Vân Đồn thuyền vào cập bến
Người bốn phương kéo đến bán buôn(1347)
Bồ Đồ rồi lại Tiểu Nhân (1348)
Tặng đồ Diêu Biến lại dâng lụa là (1349)
Nước Đại Oa cống chim trĩ đỏ (1349)
Người Vân Đồn mò trộm ngọc trai
Mùa xuân Đinh Dậu, tháng hai(1357)
Thượng hoàng băng ở cung đài Bảo Nguyên
Trần Minh Tông nhường quyền hăm tám
Hăm tám năm có lắm nhiêu phong
Cuối đời viết : Giới am Ngâm
Xét mình trong cõi hồng trần : CÓ - KHÔNG
Nước Chiêm Thành cướp dân Dĩ Lý (1361)
Vua nhà Minh sai sứ hiếu thông (1359)
Rồi Trần Hữu Lượng xin quân (1360)
Mà vua thì vẫn bình chân như thường
Vua ra lệnh thân vương, công chúa (1362)
Dâng các trò tạp hí để xem
Trò nào hay quá thì đem
Dạy cho cung nữ lập riêng một đoàn
Tổ truyện tuồng là Ly uyên Cát (1362)
Người lập ra gánh hát đầu tiên
Diễn trò cho mọi người xem
Có đào, có kép áo xiêm đủ điều
Áo quần thêu, đánh đàn thổi sáo
Phấn son tô, đội mão mang râu
Truyện xưa, tích cũ muôn màu
Tuồng Tây Vương Mẫu diễn lâu chẳng nhàm
Vua say mê, mãi ham tuồng cổ
Việc triều đình bỏ cả cho quan
Gọi người giàu có trong làng (1362)
vào cung đánh bạc, nhàn quan một lần
Lấy đất gần bên bờ Tô Lịch (1362)
Sai tư nô lên vĩa trồng hành
Trồng rau, trồng tỏi, trồng chanh
Lại làm thêm quạt vào thành bán chơi
Để có người vào nơi quán các
Thi học trò đối trát vài câu
Hỏi sang văn nghệ, cô đầu(1363)
Gọi người uống rượu bày trò mua vui
Lại đào hồ khai ngòi dẫn nước(1363)
Xếp đá thành một cõi núi non
Thông, tre, cỏ lá, hoa thơm
Chim muông cá cảnh một hòn giả sơn
Sống buông thả ngày càng sa đọa
Đêm rong chơi có bữa quên về(1364)
Rượu đào chạm cốc tới khuya
Say mất ấn kiếm chỉ vì tắm sông
Trần Dụ Tông chơi bời trác táng
Chơi tới cùng vong mạng chẳng hay
Chơi mà đất lở trời say
Lại truyền ngôi đế vào tay người ngoài
ThanhTam
16-09-2009, 07:30 AM
Quyển 9
DƯƠNG NHẬT LỄ (1369 - 1370 )
Trước khi chết vua sai đi đón(1369)
Nhật Lễ về bất kể khuyên can
Lễ là con của Dương Khương
Mẹ là con hát đào nương diễn tuồng
Khi đào nương mang thai mấy tháng
Đại vương Dục lại muốn làm chồng
Dục là con trưởng Minh Tông
Hiến Từ không rõ nên tôn lên làm
Mới đăng quang giết ngay thái hậu(1369)
Cùng Nhật Hạch ước dấu với nhau
Họ Dương sẽ đổi thay vào
Vương triều chuyển họ bắt đầu qua năm
Dương Nhật Lễ ô dâm tà đạo
Quan đại thần phải chịu chết oan
May thay nhờ có Ngô Lang(1370)
Họp cùng Vương Phủ thân vương họ Trần
TRẦN NGHỆ TÔNG ( 1370 - 1372 )
Giết Nhật Lễ quần thần mừng rỡ
Trên điện vàng tiếp nối tiền nhân
Xưng danh vương hiệu Nghệ Tông(1370)
Cứ theo phép cũ để dùng trị dân
Mẹ Nghệ Tông : Minh Từ hoàng hậu
Cũng là người cô ruột Quý Ly
Cho nên găp dịp mỗi khi
Vua ban chức tước cho Ly lên dần
Trần Nghệ Tông có công khôi phục
Dựng nghiệp nhà trong lúc ngả nghiêng
Sau ba năm chẵn cầm quyền (1372)
Nhường ngôi cho Kính là em của mình
Nước Chiêm Thành sáu lần xâm lấn
(1361, 62, 65, 66, 68, 71)
Phá thành trì vua chẳng quan tâm
Cung vua phút chốc tan tành
Quân Chiêm đánh úp, miếu đình tiêu vong
Quân giặc đến mặc lòng cướp bóc
Phá thành trì, giết chóc chẳng chừa
Hận thù tích lũy từ xưa
Bây giờ có dịp thừa cơ trả thù
Chúng vơ vét những đồ quý giá
Đập tan tành, phá cả miếu cung
Sổ sách thư tịch gom chung (1371)
Phó cho ngọn lửa cháy bùng thành tro
Lửa cháy thiêu cả nền văn hóa
Nhà Tàng Thư chốc đã tan hoang
Quân dân chưa kịp bàng hoàng
Giặc đà rút hết xuôi nam trở về
Kể từ đó mỗi khi tra cứu
Biết tìm đầu tài liệu mà tra
Rối ren nhiều chuyện sinh ra
Vì mất sổ gốc nên ta nhọc lòng
Vua sai người thi công sửa chữa
Xây những gì bị cháy ra tro
Cung thất tiết giảm cốt cho (1371)
Giữ phần nghiêm chỉnh khi vua nghị bàn
Vua lại sai Lang Trung soạn chế
Sách Quốc Triều Thống Chế, lễ nghi (1371)
Ruộng vườn đo đạc tấc ni (1371)
Tịch điền làm lại bởi vì cháy tan (1372)
Khi ngự triều vua ban chiếu chỉ
Cho dân khai lý lịch của mình
Bởi gì sổ bộ , Chiêm Thành
Đốt mất tất cả tan tành hết trơn
Giặc Chiêm Thành thâm hơn Mông Cổ
Đập thành trì, đốt bỏ sách chương
Cháy tiêu Văn Khố cội nguồn
Bao nhiêu di tích, vô phương phục hồi
Lê Quý Ly làm nơi Mật Viện (1371)
Nên thường ngày diện kiến với vua
Bao nhiêu công việc bấy giờ
Trong triều ngoài nội phải nhờ tay Ly
Cha Quý Ly vua kêu bằng cậu (1371)
Bà Minh Từ thân mẫu Nghệ Tông
Huy Ninh em gái góa chồng
Vua đem gả lại cho không Thượng hầu
TRẦN DUỆ TÔNG (1372 - 1377 )
Nhường ngôi cao cho Hoàng thái tử
Tên là Kính con thứ Minh Tông
Long Khánh niên hiệu, Duệ Tông
Một người kiệt xuất, anh hùng đời xưa
Vua Duệ Tông là người thấy được
Họa Chiêm Thành lúc trước qua đây
Hỏa thiêu tất cả đền đài
Ván sách văn khố bỏ ngay vào lò
Với ý đồ vô cùng nham hiểm
Cuộc chiến tranh hủy diệt văn minh
Chận ngay kế hoạch cố tình
Duệ Tông ra lệnh phải dành ưu tiên
Xuống chiếu truyền cho dân cả nước (1373)
Rèn kiếm cung, dự trữ binh lương
Phân chia đội ngũ rõ ràng
Đặt ra quân hiệu tước hàm phân minh
Quan văn võ chia thành thứ bậc (1374)
Chọn người tài hạng nhất trong dân (1374)
Đều cho làm tướng coi quân
Ngày đêm huấn luyện dần dần tinh thông
Vua bỏ lệ, trước không được tuyển
Kẻ nghèo nàn hay phận dân đen (1375)
Từ đây chỉ kể người hiền
Không dành đãi ngộ cho riêng loại nào
Để chuẩn bị khai đao hỏi tội
Bởi tính tình tráo trở của Chiêm
Vua sai sửa soạn chiến thuyền
Khai thông đường xá lấy thêm người vào
Bổ sung vào quân nhân mạnh khỏe
Dạy tân binh để thế lớp già
Cho đắp đường đến Hà Hoa (1375)
Chọn ngày xuaất phát tiến qua Chiêm Thành
Năm Bính Thìn vào đầu tháng chạp (1376)
Vua thân chinh quyết dẹp Nam Man
Quân : mộⴠtrăm hai chục ngàn
Và nhiều chiến cụ quân lương lên đường
Động Ỷ Mang dừng quân hạ trại(1377)
Chế Bồng Nga sai tới trá hàng
Thưa rằng thành đã trống trơn
Xin vua kíp lấy để đừng lở cơ
Ý của vua " Dụng binh thấn tốc"
Bèn cho quân đánh thốc càng nhanh
Để cho giặc khó điều binh
Đáng nhanh , đánh mạnh dể thành công hơn
Ngựa Nê Thông hí vang giữa trận
Áo huyền bào thấp thoáng bóng vua
Thúc ngang lưng ngựa cướp cờ
Ào ào gió cuốn bụi mù cát bay
Quân qua khỏi lọt ngay vào trận
Chế Bồng Nga gài sẳn từ lâu
Bốn bên giặc đánh thẳng vào
Chia cắt đội ngũ trước sau hai phần
Vua vung gươm tìm đường thóat hiễm
Mở vòng vây quyết chiến tới cùng
Nửa ngày đường máu mở xong
Vừa công vừa thủ trông chừng viện binh
Cánh hậu ứng, Tử Bình không đến
Để cho vua thế cạn đường cùng
Nạp Hoa vung mấy thước gươm
Mong cho Thánh Thượng an toàn tấm thân
May nhờ có tướng quân Đỗ Lễ
Đem tài ba bảo vệ cho người
Huyền Linh Hành Khiển vòng ngoài
Lấy khiên đỡ đạn lần hồi kết hơi
Đỗ Tử Bình một người trí trá
Trên lừa vua dưới đã lạm quyền
Đáng ra thì việc trước tiên
Là cho tốc chiến đánh liền mặt sau
Cánh hậu quân đánh vào kẻ địch
Chắc chắn là phá được phục binh
Khốn thay tên Đỗ Tử Bình
Mưu cầu sự sống riêng mình : rút êm
Lê Quý Ly nghe tin vua chết
Cũng chuồn về, bỏ hết quân binh
Nhân dân ở khắp kinh thành
Nặng lời chưởi rủa đích danh lũ này
Duệ Tông chết nhưng ngài vẫn sống
Nếu quần thần như thuở Nhân tông
Quan quân nhất quyết một lòng
Thì dù nguy khốn cũng không thế này..
TRẦN PHẾ ĐẾ ( 1377 - 1388 )
Thái tử Hiến lên ngôi kế vị
Xưng Giản Hoàng cai trị muôn dân
Ỏ렮gôi hơn được mười năm
Bị quân gian ác mưu thâm hại người
Vừa lên ngôi ban ngay đại xa
Xuống lệnh truyền cho cả thần dân
Chỉnh trang thuyền chiến binh quân
các nơi xung yếu phải tuần tra thêm
Trong mươi năm cầm quyền trị nước
Việc triều đình cắt đặt các quan quân
Thường do quyết định Nghệ Tông
Và quan Phụ Chính kề gần bên vua
Nước Chiêm Thành bấy giờ hùng mạnh
Cứ hàng năm tiến đánh quân ta
Chúa Chiêm là Chế Bồng Nga
Một người dũng lược trông xa thấy gần
Tập hợp dân bảo ban dạy dỗ
Thay đổi dần thói cũ thời xưa
Trở nên can đảm có thừa
Hình thành mối họa nỗi lo vua Trần
Thành Thăng Long ba lần bị chiếm
Có thật nhiều những chuyện xảy ra
Quân Chiêm đốt hết cửa nhà
Phá tan đền miếu chẳng tha mạng người
An Phủ Sứ họ Lê bị bắt
Nếu muốn sống thì giặc bảo quỳ
Lê Giốc chưởi , lũ man di
-"Ta quan nước lớn sao quỳ trước bây"
Giặc nổi giận giết ngay Phủ Sứ
Đốt kinh thành thiêu hủy văn thư
Nghệ Tông quá sợ kẻ thù
Tìm đường trốn đến Tiên Du lánh mình
Sợ Chiêm Thành đem tiền đi giấu
Chở tiền đồng vào núi chôn sâu
Đem tiền giấu dưới Tháp Rùa
Giấu luôn tượng đá các vua nhà Trần
Năm Canh Thân, Xương Phù thứ bốn (1380)
Vào tháng hai ở chốn Nghệ An
Quân Chiêm cướp của làm càng
Vua sai Đại Sứ, Tử Bình tảo thanh
Quân Chiêm Thành xuất quân ra đánh
Ngao quay thuyền hòng tránh tiến công
Quý Ly nổi giận đùng đùng
Chém đầu Ngao để rao cùng trong quân
Năm Quý Hợi (1383); xuất quân tiến đánh
Lê Quý Ly thống lĩnh thủy binh
Dong buồm hướng tới Chiêm Thành
Nữa đuờng gặp bã믠nên đành quay lui
Vua Nhà Minh luôn đời cống phẩm
Khi đòi lương cho lính Lâm An
Khi đòi sư sải tăng nhân
Lại đòi cây trái, lần lần đòi voi
Năm mươi voi cống cho lũ giặc
Phải sai người đưa tới Vân Nam
Muỗi mòng nước độc sơn lam
Nhiều người mất mạng kêu than muốn về
Lê Quý Ly trổ nghề thao túng
Giữa triều đình ngầm chống lại vua
Các quan lắm kẻ theo hùa
Như Trần Nguyên Đán lại nhờ nuôi con
Đán giao con nhờ Ly nâng đỡ
Chỉ cốt là tránh chỗ hiểm nguy
Đán từng nói bóng Quý Ly
Là loại quạ dữ khác gì sát tinh
Vua bàn mưu với riêng Thái Úy
Chuyện lộng hành quá thể của Ly
Vua bàn phải giết ngay đi
Để lâu mang họa sau thì khó khăn
Ly nghe được định tâm tự tử
Luận, Phương bàn xin thử Nghệ Tông
May ra ngài cứu được ông
Lựa lời nói khéo lấy lòng ông đi
Chuyện xảy ra như y lời Luận
Trần Nghệ Tông ngu xuẩn bắt vua
Các quan tướng sĩ bất ngờ
Đem quân định cướp lấy vua đem về
Vua ngăn lại, truyền đi ra hết
Viết hai chữ "giải giáp" trao cho
Thượng hoàng bảo nhỏ với vua
Thái Dương phủ đệ bảo vua đi cùng
Vừa đến nơi dùng dây siết cổ
Rồi giáng xuống Lịch Đức mà thôi
Lập cho con út lên ngôi
Thuận Tông Hoàng Đế thay người để lên
TRẦN THUẬN TÔNG (1388 - 1398 )
Trong mươi năm nắm quyền cai trị
Năm năm đầu thì có Nghệ Tông
Quyền hành đã tóm thu dần
Vào tay Phụ Chính Đại Thần Quý Ly
Năm Kỷ Ty (1389), Quý Ly làm tướng
Đem binh đi chận đánh Chiêm Thành
Quân Chiêm gài sẵn phục binh
Quý Ly thua chạy về thành thăng Long
Binh bỏ lại như ong vỡ tổ
Giặc giết gần bảy chục tướng quân
Bao nhiêu còn lại chết dần
Ấy mà Ly cứ vững chân như thường
Qua năm sau Chiêm Vương lại dẫn
Trăm chiến thuyền lảng vảng ngoài xa
Trước thuyền vua Chế Bồng Nga
Đăm đăm quan sát quân ta trên bờ
Trần Khát Chân được nhờ chỉ điểm
Liền truyền quân súng chĩa vào nơi
Bồng Nga đang ở trên đài
Ngàn ngàn đạn nổ, giết người chết ngay
Quan Chiêm Thành vừa hay vua chết
Liền vội vàng rút hết lui sau
Bồng Nga bị cắt lấy đầu
Do tên Nguyên Diệu đã đầu vua Chiêm
Phạm Nhữ Lạc giết luôn Nguyễn Diệu
Gởi về triều để báo lên vua
Rằng quân ta đã mới vừa
Đánh tan lũ giặc kẻ thù nhiều năm
La Ngại dẫn số quân còn lại
Đến sông Lô hỏa táng xác vua
Ngày đêm bọn đạo quanh co
Chiêm quốc nắng quá mịt mù ngàn năm
Nghệ Tông chết cuối năm Quý Dậu
Là một người hèn nhát u mê
Nghe hơi giặc, vội chuồn đi
Giết con, giết cháu chẳng hề động tâm
Lại là kẻ gieo mầm sụp đổ
Đưa nhà Trần đến chỗ suy vong
Việc triều chẳng chút bận tâm
Chỉ ưa tán tụng của quân nịnh thần
TRẦN THIẾU ĐẾ ( 1398 - 1400 )
Lê Quý Ly vô nhân tác quái
Manh dã tâm chẳng đoái tình người
Giết ngay con rể như chơi
Loạn thần tặc tử cướp ngôi nhà Trần
Ở Đốn Sơn hội quân thề ước
Trần Khát Chân tính nước giết đi
Định làm đảo chính Quý Ly
Nhưng vì do dự nên chi hại người
Ly biết được ra oai khủng bố
Bắt con trai một tuổi trở nên
Đem di dìm nước chết liền
Hoặc cho chôn sống, truy tìm trảo nha
Là một kẻ ranh ma quỷ quyệt
Một tay mình đã giết biết bao
Giết người kể cả trước sau
Năm trăm mạng sống năm nào còn ghi
Người đời chê Quý Ly thơ dở
Lại học đòi giải nghĩa kinh Thư
Chép thiên Vô Dật diễn nôm
Văn chương lạng quạng tính đem dạy đời
Bao kẻ sĩ đương thời phê phán
Ly bắt người kết án đày xa
Phê bình quyền của người ta
Nhưng mà chê dỡ truy ra giết liền
ThanhTam
16-09-2009, 07:30 AM
Quyển 10
HỒ QUÝ LY (1400 )
Cướp ngôi vua, chuyên quyền quá quắc
Đổi niên hiệu thành nước Đại Ngu (1400)
Nhận mình con cháu Thuấn Ngu ?
Bỏ họ Lê, đổi họ Hồ từ đây
Thuở bấy giờ có nhiều ẩn sĩ
Cũng nhiều phường quái quỉ lưu manh
Như là Đồng Thức, Hối Khanh (1401)
Dâng thư xàm tấu mong giành tranh công
Vương Nhữ Chu có công chế tác (1396)
Làm ra đồng giấy bạc lưu thương
Định ra tỷ lệ rõ ràng
Quan hai tiền giấy bằng quan tiền đồng
Ông cũng từng đặt ra triều phục
Quy định màu, hia mão các quan
Tùy theo chức tước mà mang
Khi vào triều kiến thêm phần trang nghiêm
Hoàng Hối Khanh dâng lên kế sách (1404)
Lập Hộ Tịch rồi bắt kê khai
Ghi danh từ tuổi lên hai
Chép vào sổ bộ sai người thống kê
Lịnh đuổi về những người lưu lạc
Ra quyết định hạn chế gia nô
Cho mua thóc lúa vào kho
Đắp đường thiên lý để cho dễ dàng (1402)
Nguyễn Đại Năng có tài châm cứu (1403)
Dùng kim châm để chữa cho người
Đặt chức Quảng tế khắp nơi
Chăm nom sức khỏe trông coi giữ gìn
Về hành chính đổi tên các lộ
Đặt lại chức chánh phó ban cho
Định ra mức thuế điền tô
Đặt chức Liêm phóng để dò xét dân (1400)
Hồ Quý Ly dùng trăm biện pháp
Mục đích là đàn áp nhân dân
Sau là để diệt nhà Trần
Thi hành bạo lực chẳng cần nhân tâm
Chỉ trong vòng bảy năm thống trị
Hồ Quý Ly đã thí nhiều người
Xuất vua, giết rể và rồi (1389)
Giết luôn đồng đội, con thầy chẳng thương
Dựng quán xá dọc đường sơn cốc (1402)
Chằng dây thừng để giúp thuyền qua (1399)
Lập thêm trường học nơi xa (1397)
Quan điền chục mẫu để mà trả lương
Dùng chữ Nôm thay luôn chữ Hán (1396)
Lần đầu tiên môn toán ra thi
Khảo hạch có đến bốn kỳ
Chọn ra ngày tháng định kỳ mỗi khoa
Bày ra cách : "Cầu lời nói thẳng" (1392, 1405)
Thực chất là cái bẫy giăng qua
Nghề này học được của cha
Đã làm trước đó mười ba năm rồi
Lại dời đô ra ngoài Thanh Hóa (1397)
Lấy An Tôn làm chỗ đóng đô
Người can thì để ý thù
Tính tình nhỏ nhặt như trò trẻ con
"Cốt ở đức không hơn ở hiểm"
Đó là lời Như Thuyết căn ngăn (1402)
Ngụy Thức, Nguyển Bẩm tâu rằng :
"Sống cho phải đạo hiếu trung với người" (1397)
HỒ HÁN THƯƠNG ( 1401 - 1407 )
Hồ Hán Thương thay ngôi Quốc Tổ
Đem đại quân phủ dụ Chiêm Thành
Bồ Điền sứ giả nói quanh(1402)
Dân đất Chiêm Động xin mình lui quân
Quý Ly ép dâng luôn Cổ Lũy
Đặt đất nầy thành lộ Thăng Hoa
Cảnh Chân lại được điều qua
Làm An Phủ sứ đất ta bấy giờ
vua nhà Minh thừa cơ rối loạn
Vì gian thần soán đoạt ngôi vua
Nhiều lần sách nhiễu thăm dò(1403,1404,1405)
Lúc bắt triều cống, khi cho người vào
Đầu tháng tư vào năm Bính Tuất
Quân nhà Minh đánh thốc Lãnh Kinh (1406)
Đem sang mười vạn tinh binh
Nguyên Trừng tướng quốc suýt thành tù nhân
Đến tháng chín thêm lần xâm lược
Tân thành hầu Trương Phụ tướng quân
Đem theo bốn chục vạn quân
Đánh vào Pha Lũy tiến dần kinh sư
Một cánh khác thì do Mộc Thạnh (1406)
Mở đường vào tiến đánh tạt qua
Hán Thương ra lệnh quân ta
Trải dài dàn trận để mà nghênh quân
Giặc đánh úp tấn công như chớp
Tướng nhà Hồ đang mải vui chơi
Tả thần Dực Nguyễn Công Khôi
Chết ngay tại trận không lời trối trăn
Quân Thiên Trường không ngăn được giặc
Chúng tràn vào ở khắp Thăng Long
Ra tay vét hết tiền đồng
Thiêu con trai nhỏ, sục lùng gái tơ
Quân nhà Hồ rút về Thanh Hóa
Còn lòng dân thì quá chán chê
Nhà Hồ ác đức quá ghê
Cho nên giặc đến lại về theo phe
Hồ Qúy Ly bị Tầu bắt sống
Trói gô rồi giải thẳng Kim Lăng
Đặt quan cai trị dần dần
Đổi thành Giao Chỉ, chia là Phủ Châu (1407)
48 Phủ, 5 Châu áp đặt
Lập ra ty Án sát Đô ty
Đặt quan bố chính chỉ vì
Dễ bề cai trị đất chi thành vùng
Tổng kết chung giặc thu tất cả :
Chín nghìn thuyền, chiến mã bốn trăm
Hơn ba triệu mốt hộ dân
Một trăm voi chiến, băm lăm nghìn bò
GIẢN ĐỊNH ĐẾ ( 1407 - 1409 )
Giản Định Đế hiện giờ đang ở
Châu Trường Yên Mộ Độ lên ngôi
"Diệt Minh" treo bảng cầu người
Đặng Tất nghe được tới nơi hội cùng
Vua phong Tất quốc công đại tướng
Khắp quân dân hưởng ứng rần rần
Bô Cô một trận oai hùng
Đánh cho Mộc Thạnh cong lưng chạy về
Giết Lưu Tuấn, Đô Ty Lữ Nghị
Quân nhà Trần như thế chẻ tre
Tiếc thay vua vốn hay nghe
Mộng Trang sàm tấu giết đi đại thần
Chém Cảnh Chân, bóp hầu Đặng Tất (1409)
Khiến bao người phẫn uất chán chê
Nghĩa quân tan vỡ tức thì
Mặc cho Trương Phụ ra uy vẫy vùng
Phụ tới đâu, gươm vung tới đó(1409)
Xác người phơi thành núi thảm thay
Có một ruột quấn vào cây
Hoặc đem rán lấy mở nầy đốt chơi
Lại có đứa moi thai, mổ bụng(1409)
Có đứa thì móc họng, cắt tai
Hoặc đem thiến hoạn bé trai
Lùa theo gái đẹp khắp nơi đem về
Đói thê thảm, dân quê mất trắng
Khắp ruộng đồng lúa chẳng trổ bông
Lại thêm dịch bệnh quá chừng(1407,1409)
Xác người vất vưởng nằm chồng lên nhau
Mấy tháng sau suy tôn Quý Khoáng (1409)
Lên làm vua thống quản quyền uy
Khắp nơi hào kiệt theo về
Chỉnh trang binh mã, chỉ huy mọi người
Trong khi đó lắm nơi trong nước
Nhiều người như Hà Mạc nổi lên
Giết tên Tả Dịch đương quyền(1410)
Quân không thống nhất nên đành bại vong
Vua Trùng Quang hòa trong thế yếu
Sai sứ thần Nguyễn Biểu cầu phong
Giữa triều xem giặc như không
Đem thân thuyết khách một lòng vì dân
Nguyễn Biểu đem chí nhân, đại nghĩa
Cùng luận bàn ở giữa hành dinh
Mắt nhìn Trương Phụ tổng binh
Buông lời đanh thép nên danh kẻ thù
Trương Phụ cho dọn ngay bàn tiệc
Cổ đầu người để thếch Nguyễn quân
Đầu lâu luộc chín bày mâm
Nhe răng như dọa quỉ thần cũng kinh
Môi Nguyễn Biểu cạn bình rượu đỏ
Vung tay người vừa gõ vừa ngâm :
"Ngọc thiệt, trân tu đã đủ mùi
Gia hào thêm có cổ đầu người
Nem công, chả phượng còn thua béo
Thịt gấu, gan lân cũng kém tươi
Có lối lộc ninh so cũng một
Vật bày thỏ thủ bội hơn mười
Kìa kìa ngon ngọt tày vai lợn
Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời
Còn ta thì đối với ngươi
Anh hùng hảo hớn ai người hơn nhau
Phụ giận quá cột đầu Nguyễn Biểu
Dưới chân cầu dìm chết mới thôi
Đặng Dung hận kẻ ác này
Quyết bắt cho được tên này mới thôi (1413)
Kênh soái Già khi trời đã tối
Đột nhập vào thuyền của quân Minh
Định tâm bắt Phụ một mình
Vì không biết mặt nên đành chịu thua
Dân và vua hết lòng phục quốc
Đường ngập nghềnh những bước gian nan
Còn đâu thuở ấy huy hoàng
Nước non Đại Việt vô vàn nguy nan
Hết Đặng Dung lại sang Cảnh Dị
Đến vua Trần cũng bị giặc vây
Vua quan bị lọt vào tay
Tổng Binh Trương Phụ giết ngay mấy người(1413)
Mười hai đời , khởi công dựng nước
Triều nhà Trần chấm dứt từ đây
Một trăm bảy bốn năm dài
Hậu trần thêm bảy năm rồi thay ngôi
ThanhTam
17-09-2009, 07:58 AM
Quyển 11
Năm Giáp Ngọ đặt nguời cai trị (1414)
Một vùng đất Giao Chỉ bấy giờ
Ngọc ngà vơ vét đầy kho
Bắt dân xuống biển để mò ngọc trai
Giặc Minh lại ra tay tàn ác
Chiếm lấy ngay mỏ bạc mỏ vàng(1415)
Dân ta cơ cực cùng đường
Lâm vào thảm cảnh tang thương não nề
LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)
Năm Mậu Tuất truyền đi các lộ(1418)
Rằng Lam Sơn Lê Lợi dấy binh
Muôn người nhất loạt tôn vinh
Đưa làm chủ tướng "Diệt Minh" báo thù
Ơ dưới cờ, anh hùng hào kiệt
Cùng một lòng thề quyết đánh tan
Lũ quân xâm lược hung tàn
Giành nền độc lập giang sơn của mình
Kể từ đó dồn binh tích thảo
Gởi truền dơn bá cáo khắp nơi
Anh hùng hội tại Lũng Nhai (1419)
Chung lòng giết lũ giặc trời cứu dân
Trận đầu tiên dàn quân Lạc Thủy
Đánh Mã Kỳ như thể chẻ tre
Quân lương khí giới thu về
Ba ngàn xác giặc đầu lìa khỏi thân
Tên Lý Bân đem quân lùng sục(1418)
Bị Vương cho mai phục dọc đường
Bắn tên, giặc chết, vô vàn
Hoảng hồn vội rút binh lương chạy về
Giặc kiệt quệ khó bề chống đỡ
Dân thừa cơ từ đó nổi lên
Cùng nhau tiến đánh ngày đêm
Thượng thư Hoàng Phúc phải xin hồi triều(1420)
Giặc đóng đâu, dân theo ở đấy
Như tàng hình, lúc thấy lúc không
Hở ra, giặc bị tấn công
Tham mưu Trần Trí buộc lòng rút lui(1421)
Người Ai Lao, quân vài ba vạn(1421)
Cùng trăm voi giả dạng theo ta
Vào trong doanh trại chung nhà
Nửa đêm bất ý nổ ra phá thành
Vua đích thân chỉ huy cự chiến
Giữa trận tiền vung kiếm dẹp tan
Ai Lao sợ quá chạy luôn
Quân ta đuổi đến Lưu Sơn mới về
Năm Nhâm Dần(1422) nhằm khi tháng Chạp
Người Ai Lao hẹn gặp quân Minh
Hợp tung làm thế liên minh
Đông Tây giáp lại quyết tình diệt ta
Vua xuống lệnh xông ra đánh mạnh
Cho tiến quân một cánh mở đường
Hậu quân rút khỏi chiến trường
Rồi quay bọc hậu tìm phương đánh vào
Quân Ai Lao không ngờ phản kích
Viện binh giặc nằm tít ngoài xa
Mã Kỳ, Trần Trí xin ta
Tạm thời đình chiến vờ qua lúc này
Núi Chí Linh đồn xây lán dựng
Hai tháng trời gần cạn quân lương
Giết voi và ngựa đỡ lòng(1422)
Mà quân kháng chiến vẫn không nản lòng
Rồi dùng voi tấn công đột ngột
Đánh Đa Căng, Nhữ Hốt thoát thân(1424)
Nhà Minh sai trả Lê Trăn
Xin ta ngừng chiến rút quân , trá hàng
Tướng Lam Sơn : Lê Hào , Lê Lĩnh
Với đội hình quân lính ngàn tên
Nhằm khi Lê Thạch xông lên
Chẳng may lọt hố chông ghim vào người
Bảo Lê Ngân, vua sai Lê Liệt
Đường tắt đi vây xiết Đỗ Gia
Phục binh Bồ Ải quân ta(1424)
Dưới quyền Lê Sát đánh ba hôm liền
Lấy thêm quân vua truyền vây hãm(1425)
Thành Nghệ An cùng quẫn lâu nay
Tướng giặc Trần Trí khoanh tay
Bèn cho đóng kín đợi ngày viện binh
Vây Tân Bình giao cho Lê Nỗ(1425)
Cùng Trần Nảo đánh tới Hóa Châu
Vùng đất Thuận Hóa đã lâu
Dưới ách thống trị , nay vào tay ta
Cho chia quân làm ba mũi nhọn(1426)
Hai đạo dùng giữ chốn biên cương
Chặn binh Lưỡng Quãng tiến sang
Khởi đầu bắc tiến quyết dành lại dân
Giặc ở thành Đông Quan nao núng
Tướng Lý An, Phương Chính chạy về
Bàn cùng Trần Trí rút đi
Tây Đô khốn đốn coi bề nguy nan
Để giải vây mấy làng phụ cận
Quanh Đông Quan giặc vẫn cầm chân
Nghĩa quân vây xiết lại dần
Giết Sâm và Đại ở gần cầu Nhân
Quân viện binh của Vương An Lão
Bị Lê Khả áp đảo tơi bời
Giết đi hơn một nghìn người
Tàn quân còn lại chạy dài qua sông
Vào mùa đông trong năm Bính Ngọ(1426)
Vua nhà Minh cho cử Vương Thông
Ngã Vân Nam , thẳng đến sông
Thêm quân ba vạn đi cùng Mã Anh
Sông Yên Nguyệt vây quanh quân giặc
Giết Trần Hiệp đón bắt Vương Thông
Giặc Minh chết đuối đầy giòng
Chém tên Lý Lượng bắt chừng vạn tên
Cho tiến lên đuổi theo Phương Chính
Bọn Mã Kỳ cố tránh thoát đi
Ta thu quân khí bộn bề
Vương Thông thoát dược chạy về Đông Quan
Bình Dịnh Vương chọn nơi Phù Liệt
Đặt bản doanh trực tiếp chỉ huy
Đông Đô bốn đạo phân đi
Đặt quan văn võ dễ bề điều quân
Vương tìm được họ Trần tên Cảo
Lập làm vua bố cáo trong dân
Triện ghi danh tính rõ ràng
Hiệu là Thiên Khánh ngang hàng đế vương
Giặc bị vây lâm đường khốn quẩn
Ơ nhiều nơi chúng dẫn ra hàng
Vương Thông mong được bảo toàn
Sai đưa thư đến tính toan nghị hòa
Vua bằng lòng ban ra quân lệnh
Cho từng đoàn binh lính người Minh
Mau mau tập hợp về dinh
Giải trừ vũ khí Yên Kinh cho về
Vương Thông nghe lời tên phản quốc(1426)
Nên đem lòng ngờ vực quân ta
Đắp thêm thành lũy để mà
Đợi binh tiếp viện sẽ qua cứu mình
Giận giặc Minh đã không thành thật
Lại sai người bí mật mang thư
Xin binh cứu viện bây giờ
Nên vua quyết định đánh cho tan hàng
Bản doanh nơi Đông Quan đối mặt
Địch và ta chỉ cách sông Lô
Truyền cho Nguyễn Trãi đại phu
Dự bàn việc thảo một tờ chiêu an
Giặc nhiều nơi ra hàng đồng loạt
Tướng nhà Minh hoảng hốt vô cùng
Lấy Thị Cầu chiếm Tam Giang
Diễn Châu cùng với Nghệ An quy hàng
An viễn hầu Liễu Thăng xuất trận(1427)
Đem theo cùng mười vạn quân binh
Tham tướng Bảo Định, Lương Minh
Đô đốc Thôi Tụ cùng mình kéo sang
Tướng Chinh Nam quốc công Mộc Thạnh
Năm vạn quân một cánh tiến qua
Đánh vào cửa ải Lê Hoa
Dừng chân nghe ngóng lấy đà tấn công
Còn Liễu Thăng vượt vòng Pha Lũy
Quân Lê Lựu lùi giữ Ải Lưu
Kế sách ta đã lập mưu
Chỉ vài ba trận giả đò thua to
Liễu Thăng cho đại quân đánh thốc
Lọt vào vòng mai phục của ta
Bốn bên pháo lệnh nổ ra
Quân Minh tháo chạy kêu la rần trời
Chém Liễu Thăng ở đồi Yên Ngựa(1427)
Đem bêu đầu trước giữa ba quân
Lương Minh, Lý Khánh lùi dần
Cuối cùng tử trận ở gần Chí Linh
Ngày mười lăm, quân Minh đại bại(1427)
Trói Hoàng Phúc, Thôi Tụ dẫn đi
Ta thu ấn bạc, châu phê
Hổ phù chiến khí đem về Đông Quan
Ở Vân Nam , tướng già Mộc Thạnh
Thấy rùng mình trước cảnh Liễu Thăng
Vội vàng bỏ cả ba quân
Một mình một ngựa chạy băng trốn về
Ở Đông Quan giặc nghe đại bại
Vội vàng đem dâng sớ xin hòa
Tức tốc sai sứ mang qua
Xin vua mở lượng hải hà tha cho
Vua xuống lệnh trả tù về trước
Cấp bạc tiền, gạo nước, quân lương
Cho thuyền, cấp ngựa sẵn sàng
Lấy điều nhân nghĩa dạy quân giặc tàu
Cho Phương Chính bắt đầu về trước(1427)
Còn Mã Kỳ thì được theo sau
Hoàng Phúc, Sơn Thọ lao xao
Xốc xếch quần áo dắt nhau trở về
Trước khi đi, đến nơi lạy tạ
Bình Định Vương trước cửa hành dinh
Vua ta khuyên nhủ giặc Minh
Từ đây, đừng dại chiến tranh với nguời
Bậc quân tử ở đời hiếm có
Vua và Thông luận cổ suy kim
Trước thù, nay lại hàn huyên
Cùng nhau giải mối thù hiềm từ lâu
Uống cạn bầu, chuyện trò tới sáng
Nghĩa hiếu hòa chuyện vãn với nhau
Vua sai đem rượu, đưa trâu
Khôn ngoan đáng bậc ngoại giao tuyệt vời
Năm Mậu Thân, lên ngôi hoàng đế(1428)
Dời đô về ở phía Đông Kinh
Thuận Thiên niên hiệu chính danh
Đặc tên : Đại Việt , sử xanh muôn đời
Vua cùng người nghị bàn việc nước
Luận tội công cho được phân minh(1429)
Lại sai Nguyễn Trãi dâng lên
Bình Ngô đại cáo để truyền trong dân(1428)
Bản tuyên ngôn được rao khắp nước
Cho thần dân biết được ý vua
Nước nhà độc lập bấy giờ
Thái bình thịnh trị cơ đồ phục hưng
Trong tận cùng trái tim vua nói :
1. Từng nghe :
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lê Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Vì vậy :
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi
2. Vừa rồi :
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế
Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán.
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Nam Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được
3. Ta đây :
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi,
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì :
Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà :
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nghìn chốn bể khơi
Tự ta, ta phải dốc lòng vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện, quân không một đội
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng chí khắc phục gian nan
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay :
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo
Trận Bồ Đằng, sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân, trúc chẻ tro bay
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân
Thừa thắng ruỗi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại
Tuyển binh, tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về,
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Động, thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm 1uân giặc : Trần Hiệp đã phải bêu đầu.
Mọt gian kẻ thù : Lý Lượng cũng đành bỏ mạng
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại còn chuốc tội gây oan,
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế :
Thằng nhãi con Tuyên Đức, động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy,
Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại.
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong,
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm nhăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn
Thuận đà ta đưa mũi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thên quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc,
Sĩ tốt kén người hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh,
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn,
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chiêm muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng, sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội.
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay ! Sắc phong vân phải đổi,
Ảm đạm thay ! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật !
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân,
Suối Lãnh Câu, máu đào trôi chảy, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc.
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng,
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng.
Thần vũ chẳng giết hại, thề lòng trời, ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiến thuyền
ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc.
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cổ ngựa,
về đến nước mà vẫn tim đập chân run !
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng.
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức,
Chẳng những mưu kế kỳ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay .
4. Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc.
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng, ngầm giúp đỡ mới được như vậy.
Than ôi !
Một cổ nhung chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm,
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay."
Xuống chiếu sai biểu dương sĩ tử
Khuyến khích dân tiến cử nhân tài(1429)
Lắng nghe can gián của người
Lúc bàn việc nước dẫn lời thánh nhân
Với thuộc cấp định công phong tước
Chia ba bậc, phẩm trật rõ ràng
Kê khai tài sản cá nhân
Sổ điền, sổ bộ, chia ban mà làm(1430)
Vua xuống chiếu truyền quan văn võ
Họp bàn về quy cũ bạc tiền(1431)
Không vì ưa thích ý riêng
Mà đem áp đặt lấy quyền bắt dân
Sai giết hết những quân phản nghịch
Giúp giặc làm những việc ác ôn
Đã không sửa lại lỗi lầm
Tụ bè kết đảng ngấm ngầm âm mưu
Sai tịch thu gia tư những kẻ
Làm lắm điều quốc tệ gia vong
Như là Nhữ Hốt, Văn Phong
Như tên Sùng, Lễ, tên Trung, tên Tồn
Vua giết oan quan Phạm Văn Xảo (1430)
Cũng như là Trần Cảo trước đây (1428)
Cũng như Nguyên Hãn sau này
Vì nghi bội phản giết ngay mấy người
Giết Tư Mã Lê Lai vì cậy (1427)
Có chiến công nói bậy khinh nhờn
Tịch thu tiền của gia trang
Chém ngay những kẻ bán buôn trữ hàng
Vua làm sách Lam Sơn thực lục
Chép lịch triều từ lúc khởi binh
Viết lên sự nghiệp kháng Minh
Ghi công chiến sĩ vô danh muôn đời
Vua lại sai xây cung Vạn Thọ (1428)
Chế tạo thêm chiến cụ, thuyền bè
Đúc tiền, biểu chế phục nghi
Định ra ấn tín, quốc huy rõ ràng
Năm Quý Sửu thượng tuần tháng tám (1433)
Vua băng hà chính tẩm Đông Kinh
Là người áo vải xuất chinh
Mười năm ròng rã kháng Minh phục thù
Khi cõi bờ không còn bóng giặc
Ngài chăm lo việc nước việc dân
Chỉnh tu luật pháp dần dần
Mở mang trường học gương chân thánh hiền (1428)
Ngoài chống giặc, trong yên vận nước
Chuyện áo cơm lo trước cho dân
Lam Sơn thực lục tự thân
Viết lên quan điểm trị dân rõ ràng
ThanhTam
17-09-2009, 07:59 AM
Quyển 12
LÊ THÁI TÔNG HOÀNG ĐẾ (1433- 1442)
Thái tử Long, được lên thế chỗ (1433)
Tôn cha là Thế Tổ nhà Lê
Thiệu Bình đổi lại niên ghi
Sai quan Nguyễn Trãi soạn bia, dựng đền
Lê Thái Tông chiêu hiền đãi sĩ
Chọn người tài chiếu chỉ tước phong
Tổ chức khảo hạch thật đông
Ngàn người thi đổ ở trong thời mình
Quốc Tử Giám về kinh để học
Còn bậc ba sách đọc huyện châu
Định ra ngạch thuế bãi dâu
Lập ra luật ruộng, đầm, ao rõ ràng
Trên ngai vàng vua còn non nớt
Đại tư đồ Lê Sát ra oai
Hạch quan sách lại hằng ngày
Những điều nhân nghĩa không bày cho vua
Sát quyền uy không thua vương đế
Giết Nhân Chú , bãi phế Ư Đài
Đày quan Cầm Hổ ra ngoài
Truất quyền Trinh, Khả, hiền tài ghét ghen
Vua ham chơi thường xuyên bỏ học
Ngự sử quan dở khóc dở cười
Họp bàn viết sớ dâng Người
Khuyên vua chớ có buông lơi tập rèn
Đã ba năm, tuổi lên mười bốn
Suốt cả đời ở chốn lầu son
May thay tư chất khôn ngoan
Cho nên hiểu ý các quan muốn gì
Sát chuyên quyền lắm khi sàm tấu
Tiếng ong ve đã thấu tai vua
Thái Tông xuống chiếu giao cho
Hình quan xét hỏi thiệt hư thế nào
Bãi chức đại tư đồ Lê Sát (1437)
Ngọc Dao hoàng hậu phế đi
Phong cho Nhật Lệ Chiêu Nghi
Được làm chính thức Huệ Phi của người
Vua xuống chiếu truyền sai dẹp loạn
Lại thân chinh quyết đoán ra quân
Đánh dân thiểu số họ Cầm
Thuận Châu, Thu Vật đầu hàng năm sau (1440)
Phế Nghi Dân, rồi giao con thứ
Húy tên là thái tử Bang Cơ (1441)
Thừa ngôi thái tử bấy giờ
Tạo mầm bạo loạn kể từ hôm nay
Vua rất trẻ tuổi đời mười sáu
Đã là cha mấy cậu con trai
Hàng trăm cung nữ trong tay
Ngập chìm tửu sắc, ngày ngày hoang dâm
Nguyễn thị Lộ phong hàm học sĩ
Là một người kiều nữ trong cung
Ngày đêm hầu hạ ở cùng
Thái Tông suồng sã lung tung với nàng
Lộ vợ thứ đại thần Nguyễn Trãi
Vừa đẹp người lại giỏi văn chương
Nhân vua đang ở Quy Dương
Ghé thăm Nguyễn Trãi tại vườn Lệ Chi
Vua và Lộ cùng nhau trò chuyện
Lại hàn huyên cho đến suốt đêm
Đang vui sao bỗng tự nhiên
Một cơn đột quỵ chết liền trong tay
Lộ kinh hoàng cố lay vua dậy
Trâm cài đầu chẳng thấy hồi sinh
Xác vua đang ở bên mình
Long lanh giọt lệ ngấn quanh mắt nàng
Xác vua quàng ở nhà Nguyễn Trãi
Đưa về kinh mất phải hai ngày
Vào cung rồi phát tang ngay
Khiến cho trăm họ tiếng rày tiếng ve
Mười hai hôm , sau khi biến cố
Ghép Thị Lộ vào tội giết vua
Cả dòng Nguyễn Trãi bị đưa
Tru di tam tộc không chừa một ai
LÊ NHÂN TÔNG HOÀNG ĐẾ (1442- 1459)
Lập Bang Cơ lên ngai hoàng đế(1442)
Hoàng tử là thứ kế con vua
Một người sáng suốt có thừa
Tiếc thay chết trẻ khi chưa truởng thành
Việc triều chính thân hành thái hậu
Buông rèm che nghe tấu việc triều
Lê Khắc Phục , được đi theo
Lại thêm Thụ, Khả góp điều phò vua
Hậu đàn bà mắt lòa chẳng thấy(1449)
Bọn đại thần che đậy cho nhau
Chỉ lo thu vén đem vào(1448)
Kết bè kết đảng, kết giao hoạn thần
Bọn đại quan một đoàn xiểm nịnh
Ghen hiền tài, ghét chính, tà gian
Bên ngoài xã tắc suy tàn
Cậy quyền, ỷ thế làm càng hiếp dân
Nạn hối lộ đã dần thành tật
Việc bán quan mua tước thường xuyên
Nghiêu Tử, rồi lại Trịnh Kiên
Hàn lâm học sĩ dốt nguyên cả làng (1448)
Năm Giáp Tý bắt giam Lê Liệt
Rồi Phục, Khả bị giết oan khiêng(1452)
Ra tayThái hậu nắm quyền
Lệnh bà quyết định mọi đàng trong dân
Năm Bính Dần, chọn nguời khỏe mạnh
Xung vào quân để đánh Chiêm man
Xuất binh chiếm được Chà Bàn
Bí Cai Chiêm chúa đầu hàng quân ta
Phú xin tha cho dân Quy Hóa (1448)
Miền Tuyên Quang đói kém thiếu mưa
Ruộng đồng lúa mọc lưa thưa
Nhiều năm đại hạn mất mùa liên miên
Năm Kỷ Mão, một đêm chính biến
Lê Đắc Ninh giữ điện cấm quân
Theo phe phản nghịch Nghi Dân (1459)
Cùng hơn trăm đứa leo thành vào cung
LÊ NGHI DÂN HOÀNG ĐẾ (1459- 1460)
Giết Nhân Tông, với cùng thái hậu
Đoạt ngai vàng kết cấu gian nhân
Người trong bè đảng gia ân
Qua Tàu , sai sứ xin ban vương hầu
Tám tháng sau, hội bàn sự việc
Gồm công thần Đinh Liệt, Lê Yên
Với quan Nguyễn Xí, Điện Tiền
Cùng nhau mưu sự giết liền hai tên
Đóng cửa thành, giử yên thống suất
Bắt Nghi Dân phế truất tức thời
Quần thần hội kiến với nguời
Tư Thành hoàng tử được mời nhận ngôi (1460)
LÊ THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ (1460- 1497)
Đó là ngày, giữa năm mồng sáu
Lên ngai vàng lễ hậu phát tang
Cho anh và mẹ đàng hoàng
Rước vào thế miếu lập đàn cầu siêu
Vua có nhiều thiên tư đặc biệt
Là một người cương quyết thực tài
Lại còn võ giỏi văn hay
Làu thông kinh sử thuở nay mấy người
Ngự trên ngai tuổi đời muời tám
Sửa nhân luân, quyết đoán mối giềng
Đào Biểu truy nghĩa tuyên dương
Đắc Ninh giết bỏ làm gương cho đời
Nay cho đổi, là thời Quang Thuận
Xuống chiếu truyền tha án tù nhân
Xét xem chức tước bá quan
Cấp cho ruộng đất để làm của riêng
Năm Canh Thìn sai quan Lê Liệt
Đem quân đi tiễu triệt Bồn Man (1460)
Dựng văn bia ở Mục Lăng
Bắt làm hộ tịch, đe răn phản thần
Lệnh cho khắp các quan huyện phủ
Phải ưu tiên khuyến nhủ nhân tâm
Chăm lo cày cấy siêng năng
Bỏ gốc theo ngọn khuyên dân không làm
Lệ thi Hương vua ban định rõ (1462)
Danh sách thi gạt bỏ những người
Dù cho học giỏi, có tài
Mà vô đạo đức cũng hoài bỏ đi
Lại định kỳ thi Hương, thi Hội
Đệ nhất thời phải hỏi Tứ Thư
Thứ hai : chiếu, chế, biểu từ
Thứ ba " thơ, phú. Thứ tư :sách, bài
Về hành chánh, hỏi tay hiểu việc
Chốn nha môn phải biết ký tên
Hưu quan sáu chục trở lên
Được về trí sĩ giữ nguyên tước hàm.
Đổi sáu bộ ra làm sáu viện
Mỗi viện đều riêng tuyển thượng thư
Truyền cho làm việc đúng giờ (1462)
Nhưng saulại đổi y như xưa làm
Tháng hai năm Quý Mùi, thi Hội
Vua thân hành vấn hỏi thí sinh (1463)
Tiến sĩ chọn được Thế Vinh
Bắt loa truyền gọi xướng danh từng người
Trăm kẻ thi một người được đỗ
Treo bảng vàng ngoài cửa Đông Hoa
Ban ân ủy dụ thật là
Vô cùng trân trọng vang xa dội gần
Năm Giáp Thân (1464) vua về cúng tế
Ơ Sơn Lăng theo lệ hằng năm
Giải oan Nguyễn Trãi, chiếu rằng :
"Bổ cho con Nguyễn Trãi chức đồng tri Châu"
Vua nhớ đến công lao Nguyễn Trãi (1467)
Cho phục hồi hết thảy thơ văn
Đề cao giá trị tinh thần
Phần nào chuộc lại lỗi lầm tiên vương
Sai người đi dò đường, dò bể (1490)
Vẽ bản đồ hình thể quốc gia
Định ra biên giới nước ta
Ai Lao, Chiêm Quốc thật là phân minh
Việc quân ngũ định thành quy chế (1467)
Chia ra làm mỗi vệ như sau :
Vệ thì : năm sở làm đầu
Sở : hai chục đội được giao tuyển người
Quân số đội là hai mươi chẵn
Luyện côn quyền, thương giản cho tinh
Lúc nào đất nước thanh bình
Cho về một nửa dân đinh cấy cày
Sai Khuất Đã ra tay đánh giặc (1467)
Đến Mã Giang vây bắt Đạo Đồng
Tiểu trừ ở sách Man Nhung
Dẹp tan giặc cỏ yên lòng nhân dân
Với quần thần, vua ban sắc dụ
Thường hay dùng điển cũ, ý xưa
Răn người bất nghĩa a dua
Lời trong sắc dụ nghe như văn tài
Nguyễn Bá Ký là tay học sĩ
Chê vua không chú ý sử kinh
Không theo lối học thực hành
Phù hoa sáo điễn thiếu phần cách tân
Vua tự xưng Tao Đàn nguyên soái
Hăm tám người lập hội làm thơ
Đa phần bài xướng của vua
Các quan họa lại ngợi ca hết lời
Vua lại sai Sĩ Liên phụng chỉ
Viết "Đại Việt sử ký toàn thư"
Phu Tiên năm Hợi bấy giờ
Hơn hai niên kỷ đến chừ mới xong (1479)
Truyền Lễ, Cử, Nhuận, Trung, Đình Bảo
Biên tập xong chính sự quốc triều
Viết từ Thái Tổ tiếp theo
Soạn thành trăm quyển chia nhiều bộ môn
Các sử quan vâng theo chếu chỉ
Cố cho xong bất kể đêm ngày
"Thiên Nam Dư Hạ Tập" này
Công trình biên soạn đến nay hoàn thành (1483)
Lại sai chép "Thân Chinh ký sự"
Ghi rõ ràng lịch sử đánh Chiêm
Ai Lao cũng đã dẹp yên
Viết thành một quyển để riêng bấy giờ
Luật Hồng Đức trong Dư Hạ tập
Là biểu trưng luật pháp quốc gia
Hình quan theo đó mà tra
Những điều luật định thật là phân minh
Vua ví mình ngang danh Đỗ Phủ (1496)
Thường huênh hoang giữa chỗ triều đình
Tao Đàn nguyên soái xưng danh
Thơ văn khẩu khí chỉ dành hạng trung
Lê Thánh Tông có chừng vài quyển
Đại khái là "Quỳnh Uyển cửu ca"
"Cổ kim bách vịnh" thi ca
"Xuân vân", "Kim cổ", "Anh hoa" thơ Đường
Về ngoại giao lựa phương khôn khéo
Nước Chiêm Thành chọn mẹo cầu phong
Nhã Lan không dám hai lòng
Bồn, Sơn man cũng phục tùng nước ta
Với nhà Minh thì ta giữ đúng
Cứ ba năm triều cống một lần
Chọn đi những vị sứ thần
Có tài ứng đối ngoại nhân phải gờm
Viết cảo thơm "Bình Chiêm sách lược"(1471)
Mười mấy điều phát trước trong doanh
Tháng năm Tân Mão đánh thành (1471)
Chà Bàn bắt sống tù binh mấy ngàn
Băm tám năm Tư Thành nối nghiệp
Được tôn xưng hoàng đế Thánh Tông
Một người nổi tiếng hiếu trung
Có tài văn học, tinh thông lắm điều
Trong đời vua có nhiều trước tác
Định luật hình cùng các việc binh
Xây thêm đền điện, cung đình
Sửa sang chính sự cho thành nếp hơn
Đạo làm con, một lòng hiếu thảo (1496)
Khi mẹ đau dâng cháo, hầu cơm
Ngày đêm bên cạnh chăm nom
Đến khi mẹ chết tự làm ma chay
Viết bút thỏ một bài tự thuật :
"Ngũ thập niên hoa thất xích khu
Cương trường như thiết khước thành nhu
Phong xuy song ngoại hoàng hoa tạ
Lộ ấp đình tiền lục liễu tồ
Bích hán vọng tùng vân diễu diễu
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du
Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô ?
Ngoài trời rắc mấy hạt mưa
Giấc thiên thu đã vỗ ru đêm dài
"Năm chục hoa niên bảy thước thân
Lòng như sắc cứng bỗng mềm dần
Gió lay khô héo hoa bên cửa
Sương dãi gầy mòn liễu trước sân
Trời biển xa trông mây thăm thẳm
Kê vàng tỉnh giấc dạ bâng khuâng
Khuất lời cách mặt non bồng vắng
Băng ngọc du hồn nhập mộng chăng ?"
Vua đứng ra, tự mình tẩm liệm
Thay áo quần cho đến rửa chân
Bỏ vào miệng mẹ kim ngân
Cầu xin cho mẹ siêu thần cõi tiên
Lê Thánh Tông người hiền hiếm có
Lúc làm vua uy vũ anh minh
Giữ yên trăm họ thái bình
Xiển dương văn hoá, luật hình sửa sang
ThanhTam
17-09-2009, 08:00 AM
Quyển 13
Trước khi băng vào năm Đinh Tỵ (1497)
Giữa triều đình chiếu chỉ truyền ngôi
Lựa trong mười bốn con trai
Hai mươi con gái chọn người lên thay
LÊ HIẾN TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1497- 1504)
Thái tử Huy lên ngôi hoàng đế (1497)
Là một nguời thông duệ anh minh
Việc quan cho chí việc binh
Thân hành khảo xét, tự mình duyệt phê (1498)
Vua ở ngôi tuổi kề băm bảy
Giữ phép công vẫn phải theo xưa
Thường đem Kinh Dịch, Kinh Thi
Mà răn thần tử giữ bề vua tôi
Năm Kỷ Mùi cho đòi tuyên sứ(1499)
Báo cho dân dự trữ gạo dư (1498)
Không nên xa xỉ dùng bừa
Để dành khi đói mất mùa mà ăn
Cũng năm đó cùng quan bộ Lại
Điện Kính Thiên vua ngự xướng danh
Truyền loa rao khắp kinh thành
Bảng vàng tiến sĩ một mình Lý Khiêm (1499)
Vua lại truyền thẩm tra quan lại
Tinh giảm dần bộ máy quốc gia
Tham, ngu, dốt, hoặc quá già
Thì cho trí sĩ thải ra loại này
Kể từ nay thân vương, dân chúng
Không cưới xin Man chủng Chiêm Thành
Bảo toàn giòng giống tinh anh
Để cho phong tục nước mình giữ nguyên
Cấp áo xiêm tùy theo chức tước
Khi vào chầu cho các quan nha
Thường triều mặc áo tơ gai
Trong ngày quốc kỵ cấm xài vải hoa
Vua chuẩn y lời tâu Lễ Bộ (1503)
Cho đắp đê, đóng vĩ nâng bờ
Ven sông Tô Lịch để hờ
Phòng khi lụt hạn đóng cừ tưới tiêu
Quan Hàn lâm Minh triều đi sứ (1499)
Là Lương Trừ mang ngự sắc sang
Phong làm vua nước An Nam
Lệnh cho lưỡng quốc nghị bàn hiếu thông
Kỳ thi Hội nói chung có khác (1502)
Lễ xướng danh loa bắc truyền ra
Bảng vàng trước ở Đông Hoa
Nay nhà Thái học đem ra bấy giờ
Quan Gia Đình Trung Thu Ngoạn Nguyệt
Là bài thơ điểm khuyết của vua
Khuyên dân cày cấy đúng mùa
Một bài ngự chế dặn dò như sau :
Tinh hỏa hôn trung dạ
Bồng mang xuất bích đông
Kinh phuơng dương đại thủy
Vệ địa khủng hưng nhung
Tuần tĩnh vưu tâm lý
Suy chiêm mạn di đồng
Bài thơ nói tự đáy lòng
Lưu tâm lụt lội đề phòng về sau
Vua kinh hành ngự vào Thanh Hóa
Bái Sơn Lăng xa giá trở về
Mình rồng nghe đã hơi se
Lại ham nữ sắc có bề đáng lo
LÊ TÚC TÔNG HOÀNG ĐẾ (1504)
Khi sắp băng truyền cho thái tử
Húy là Thuần, con thứ hiến Tông
Một trong sáu vị nối dòng
Lên ngôi cửu ngũ thuận lòng muôn dân
Lễ đăng quang vào năm Giáp Tý (1504)
Từ năm nay niên chỉ Thái Trinh
Ngày sinh Khánh Tiết Thiên Ninh
Ra ân đại xá, thái bình yên dân
Vua ở ngôi được gần sáu tháng
Là một nguời yểu mạng không may
Lại thêm hiếu học tài hay
Làm vua mấy tháng , tiếc thay giữa chừng
LÊ UY MỤC HOÀNG ĐẾ
(1504- 1510)
Lúc lâm chung để lời di mệnh
Đến Hưng Minh, cung thỉnh hoàng huynh
Nguời này tên húy là Huyên
Hiệu Uy Mục Đế nối quyền chăn dân
Mẹ của vua người làng Phú Chẫn
Thuở cơ hàn tự bán mình đi
Bị sung làm kẻ nô tì
Đưa vào trong nội cận kề tiên vương
Lúc Hiến Tông còn đang thái tử
Thấy nàng xinh tình tứ thước tha
Đưa về trong phủ làm hoa
Hạ sinh Uy Mục chợt qua đời liền
Vì thù riêng , giết ngầm tổ mẫu
Người dáng dấp tướng mạo Quỷ Vương
Bất cần triều chính kỷ cương
Gian dâm hiếu sát xem thói thường hung hăng
Mạc Đăng Dung làm Thiên vũ vệ (1507)
Trong gia phả : hậu duệ Đĩnh Chi
Vai u thịt bắp coi bề,
Làm quan túc vệ chỉ huy ngự tiền
Vua Uy Mục ngày thêm càng rỡ
Khi say mèm giết cả cung nhân
Để cho họ ngoại chiếm dần
Nhữ Vi , Khương Chủng chẳng cần hỏi ai
(1505,1507, 1509)
Cậy quyền thế ra oai vùi dập(1507)
Từ dân lành đến lớp thân vương
Muôn dân ta thán vô vàn
Còn vua thì vẫn cung nhân vui đùa
Theo lệnh vua giết thêm nữ sử (1509)
Và người Chiêm đang giữ trong tù
Giết luôn tôn thất của vua
Hại người cốt nhục không chừa một ai
Trong năm năm trên ngôi hoàng đế
Tội ác nhiều không xuễ mà ghi
Giết người, vét thuế đem đi
Tiêu xài phung phí kể gì của công
Tu Công Dinh họp cùng ba phủ
Được tôn lên minh chủ nghĩa binh
Dùng Văn Lang để tiến hành
Diệt trừ bạo chúa xích xiềng ác ôn(1509)
Từ Tây đô đem quân tiến đánh
Uy Mục Vương vội lánh khỏi thành
Tu Công chiếm được Đông Kinh
Hoàn toàn làm chủ tình hình rối ren
Uy Mục Vương bắt đem giam lỏng
Xác bỏ vào miệng súng bắn đi
Xong đời một kẻ ác di
Một tên bạo ngược quá ghê bấy giờ
LÊ TƯƠNG DỰC HOÀNG ĐẾ
(1510- 1516)
Tương Dực Đế ngôi vua thay thế (1516)
Lấy Ngô Hoán : Tán Trị thừa tuyên
Chỉnh trang bộ máy chính quyền
Lệnh cho bộ Hộ an ninh làm đầu
Nền ngoại giao cũng cùng lối cũ
Sai Lý Khiêm đi sứ sang Minh(1510)
Đem đồ tuế cống linh đình
Theo như đòi hỏi triều đình Trung Hoa
Minh Chính Đức cho qua đáp lễ
Sai Hy Tăng, Nhược Thủy đem sang (1513)
Sắc phong vua nước An Nam
Ban cho mũ áo được làm bằng da
Phạm Hy Tăng chê vua dáng lệch
Là "vua Heo" thích việc ăn chơi
Loạn vong sẽ xẩy tới nơi
Ngai vàng Giao Chỉ khó ngồi được lâu
Vua thông dâm nàng hầu của bố(1514)
Rồi giao hoan cả vợ anh em(1515)
Hồ Tây cho sửa sang thêm
Cởi truồng cung nữ chèo thuyền làm vui
Lại sai người đắp thành ngàn trượng(1516)
Làm cống ngầm , đập chắn sông Tô
Cửu Trùng mặt trước đào hồ
Nhà hơn trăm nóc tốn hao vô cùng
Trong nội cung hoạn quan làm loạn
Bọn phản thần định thoán ngôi vua
Nhờ tay Trịnh Hựu ngăn cho
Bọn Hài bị chém bấy giờ mới yên(1510)
Ơ trấn biên nỗi lên giặc cỏ
Như Hưng, Hy,Triệt ở Nghệ An (1512)
Lê Hất và bọn Trần Tuân
Vua sai Đỗ Nhạc đem quân tiểu trừ
Chiếm đất chùa Quỳnh Lâm đại náo
Ơ Thùy Đường Trần Cảo xưng vương(1516)
Đem quân vây kín phủ đường
Thăng Long chiếm cứ tự phong quốc triều
Tương Dực Đế đuổi theo Trần Cảo
Cảo chạy thua về thấu đảo Ngọc Sơn
Vua sai Trần Tiến đánh dồn
Cảo quay quân lại giết luôn tướng triều
Trịnh Duy Sản âm mưu phế bỏ
Lừa giết vua ở chỗ Bích Câu
Xác vua vắt vẻo đem vào
Ơ trên mình ngựa châm dầu hỏa thiêu
Năm Giáp Tuất(1514) dưới triều Tương Dực
Quan thượng thư Đông Các Lê Tung
Viết bài Tổng luận tiến dâng
Về kho Đại Việt, Vũ Quỳnh khảo biên
LÊ CHIÊU TÔNG HOÀNG ĐẾ
( 1516- 1522)
Bọn chuyên quyền đưa ra vua mới (1516)
Húy là Y, hoàng đế Chiêu Tông
Đổi năm Quang Thuận để xưng
Trong triều ngoài nội Đăng Dung cầm quyền
Trịnh Duy Sản lấy thêm quân lính
Cùng Nguyễn Thượng đi đánh Chí Linh
Bị quân Trần Cảo vây quanh
Cuối cùng bị giết gần thành Lạng Nguyên(1516)
Quân của Cảo ngày thêm khốn khổ
Bèn rút về trấn ở Lạng Nguyên
Cảo cho trai trưởng cầm quyền
Còn mình xuống tóc tu tiên lánh đời(1516)
Các quan lại tùy thời cát cứ
Đem quân mình trừ khử lẫn nhau
Trần Chân, Hoàng Dụ rồi sau
Xuân Thi, Nguyễn Áng đánh vào kinh sư
Có Nguyễn Sư bức xúc trước cảnh
Nước nhà lâm vào nạn rối tung
Ra tay cái thế anh hùng
Thử xem thời vận mấy dòng thơ sau :
Những toan phục nước cứu muôn dân
Trời chẳng chiều người cũng khó phần
Sông rộng, Giang Đông khôn trở gót
Gió to Xích Bích để thiêu quân
Ninh Sơn mây ám rồng xa khuất
Phúc địa trăng soi hạc tới gần
Anh hùng thành bại xưa nay vậy
Chí đời chưa thỏa hận vô ngần
Ơ thành đô bây chừ khói lửa(1518)
Giặc tha hồ cướp của lương dân
Trước thì Trần Cảo tang thương
Sau là Duy Nhạc phá tan kinh thành
Mạc Đăng Dung hồi binh theo lệnh
Của Chiêu Tông bình định loạn quân
Quyền uy, ông tóm thâu dần
Vào tay họ Mạc loại dần người ngay
Vua mưu ngầm cho vời Hiến, Thứ(1522)
Cho người làm mật sứ gọi Tuy
Nửa đêm vua lẻn ra đi
Đăng Dung biết được cấp truy chận đường
LÊ CUNG HOÀNG HOÀNG ĐẾ
( 1522- 1527)
Sau hiệp bàn , thái sư Lê Phụ(1522)
Lấy em vua đề cử lên ngôi
Lê Xuân được đặt lên ngai
Tân vương là cháu bốn đời Thánh Tông
Đăng Dung giết Chiêu Tông hoàng đế(1526)
Giữa năm Hợi(1527) lại phế Cung Hoàng
Giáng vua xuống tước Cung Vương
Bắt Hoàng thái hậu giam chung với người
Bà khấn trời trước khi bị thí :
"Mạc Đăng Dung là kẻ bề tôi
Manh tâm, phế chúa, cướp ngôi
Ngày sau con cháu nó thời như ri"
MẠC ĐĂNG DUNG ( 1527- 1529)
Mạc Đăng Dung vốn nghề đánh cá
Thuở thiếu thời sống ở Cổ Trai
Có dư sức khỏe hơn người
Xuất thân lực sĩ vào đời hậu Lê
Đô chỉ huy lên chức Thái phó
Tóm thâu đầy quyền ở trong tay
Ra oai tác quái với người
Bắt vua viết chiếu nhường ngôi cho mình
Dung sai người qua Minh kính báo(1428)
Cắt hai châu tiến cáo đem dâng
Vua Minh thấy thế bằng lòng
Cho quan giao hảo sứ thông bình thường
Mạc Đăng Dung ngôi vương cướp được
Ba năm trời, bắt chước thuở xưa
Truyền cho con truởng làm vua(1429)
Còn mình Thái thượng được vừa mấy năm
MẠC ĐĂNG DOANH ( 1529- 1540)
Mạc Đăng Doanh đổi năm Đại Chính(1429)
Nắm binh quyền ước tính mười năm
Điều quân trị nước sai lầm
Nhân dân ta thán hờn căm quá nhiều
Thuở bấy giờ dân kêu thảm thiết
Mấy năm liền chém giết lẫn nhau(1525)
Lại thêm sâu cắn hoa màu(1527,1530)
Nhân dân ly tán khổ đau vô cùng
Nguời ta trông có người lãnh tụ
Đưa nuớc ra khỏi chổ lầm than
Dẹp yên bè lũ tham tàn
Sâu dân mọt nuớc đã làm suy vong
Năm Canh Dần có ông Lê Ý(1430)
Người họ Lê khởi nghĩa dấy binh
Khắp nơi trong nước tòng chinh
Chỉ vài ba tháng quân thanh lẫy lừng
Mạc Đăng Dung đem quân đi đánh
Mấy trận liền xính vính tả tơi
Sơn quan tìm lối rút lui
Tống Giang cứ điểm cho người trấn biên
Mạc Đăng Doanh điều quân Hoằng Hóa
Cùng Quốc Trinh trấn ngã Thạch Thành
Bất thần tung chưởng đánh nhanh
Tuởng rằng thắng thế hóa thành thua to
Quân Lê Ý bấy giờ kiêu ngạo
Vì coi thường nên dẫu hùng binh
Nhân khi sơ ý coi khinh
Bị quân nhà Mạc công thành đánh tan
Bắt được Ý cửa Nam, bãi cát
Lệnh dùng xe xé xác hành hình(1530)
Nghĩa quân tan vỡ rất nhanh
Người thì phân tán kẻ đành chạy sang
Nước Ai Lao chọn đường ẩn náu
Sống tạm thời rèn giáo mài gươm
Chờ khi khôi phục giang san
Dẹp tan bạo chúa trung hưng nước nhà
Doanh cũng cho mở khoa thi Hội
Tuyển nhân tài cứ mỗi tam niên
Trạng nguyên là Nguyễn Bỉnh Khiêm(1535)
Tiến sĩ cập đệ có thêm họ Bùi
Ở trong nước ơn trời đổ xuống
Mưa thuận hòa đất ruộng lúa chiêm
Được mùa quốc thống tạm yên
Không còn trộm cướp liên miên như thời...
Họ Mạc sai sang Minh dâng biểu
Nộp sổ sách và chịu xin hàng
Đăng Dung qùy trước phủ đường
Cột dây vào cổ xin nhường đất đai(1540)
LÊ TRANG TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1533- 1548)
Nguyễn Kim cho người tìm khắp nước
Kiếm cháu con đời trước nhà Lê
Rước ông Lê Huyến đưa về
Tôn làm Hoàng đế trị vì hùng binh
Từ Lê Lợi khai sinh dấy nghiệp
Đến Cung Hoàng nối tiếp nhiều năm
Kéo dài niên kỷ hơn trăm
Lê sơ nay chuyển ra làm Trung hưng
Vua Trang Tông (1533) trở về lại nước
Cùng Nguyễn Kim lo việc binh dân
Ngày đêm chỉnh đốn quan quân
Nguyên Hòa niên hiệu, kết thân nước Lào
Tây dựa vào Ai Lao hùng cứ
Bắc thì cho sai sứ cầu phong
Đất đai giữ được phía trong
Cao Bằng, họ Mạc tranh hùng với Lê
Cả hai xin Tàu về phân xử
Bọn Mạc Lê là thứ hám danh
Đăng Dung lại tự trói mình
Lấy dây buộc cổ ở thành Nam Quan
Dung dâng biểu đầu hàng quân giặc
Còn Trang Tông lại mách Đăng Dung :
Tiếm ngôi rồi lại tự xưng
Làm vua Đại Việt cúi dâng chuyện này
Vua nhà Minh hiểu ngay sự thể (1541-1546)
Mạc Phúc Hải theo lệ cống mình
Lạy , quỳ trước mặt quân Minh
Để quan hội khám ở thành Nam Quan
Cho người mang đồ sang tuế cống
Bị quân Minh rẻ rúng bồi thần
Việc này nhục quốc khi dân
Khiến cho bá tánh hận quân cầm quyền
Người trong nước bùng lên khởi nghĩa
Theo Trang Tông vì quá chán chê
Nguyễn Kim là tổng chỉ huy
Anh hùng hào kiệt theo về rất đông
Dương Chấp Nhất gian hùng họ Mạc (1545)
Giả trá hàng giết được Nguyễn Kim
Vua sai Trịnh Kiểm thay quyền
Nam-Lê; Bắc-Mạc hai miền phân tranh
MẠC PHÚC NGUYÊN
(1546- 1561)
Năm Bính Ngọ (1546) Phúc Nguyên kế vị
Việc triều chính lại để chú coi
Khiêm Vương Kính Điễn dùng người
Cùng quan Thái tể trong ngoài giữ yên
Mạc Kính Điển quyền hành quyết đoán(1546)
Thẳng tay trừ, dẹp loạn Chính Trung
Họ hàng giết lẫn lung tung
Trung bèn chiếm cứ một vùng Quảng Yên
ThanhTam
17-09-2009, 08:01 AM
Quyển 14
LÊ TRUNG TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1548- 1556)
Thái tử Huyên sau khi cha chết
Được đưa lên kế nghiệp tiên vương
Năm Mậu Thân (1548) lể đăng quang
Giửa triều ngự thị lo toan nước nhà
Việc Nam Triều phải qua Trịnh Kiểm
Vua giao cho xét tuyển nhân tài
Tính trù mưu lược lựa thời
Trung hưng đế chế trong ngoài vỗ yên
Lê Bá Ly tướng bên nhà Mạc(1550)
Phùng Khắc Khoan và các anh hào
Khải Khang, Nguyên Thiếu cùng nhau(1552)
Vượt biên để tới Nam triều Lam kinh
Vua cả mừng thưởng ban ủy lạo
Phong chức tước áo mão cân đai(1551)
Tùy theo sở đoản mỗi người
Mà trao nhiệm vụ trông coi việc triều
Mở chế khoa vừa treo bảng hổ(1554)
Đinh Bạt Tụy chấm đổ xuất thân
Người làng Bùi Khổng , Nghệ An
Là tay uyên bác danh nhân bấy giờ
Năm Bính Thìn nhà vua tạ thế(1556)
Nước một ngày không thể không vua
Chọn người tùy ở Thái sư
Tìm trong con cháu Lê Trừ đưa lên
LÊ ANH TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1556 - 1573)
Lê Duy Bang trở thành thiên tử
Lấy Phạm Đốc Binh bộ thượng thư
Tạm tha thu thuế địa tô
Trung hưng giềng mối tiền đồ tổ tiên
Thuở bấy giờ hai miền Nam Bắc
Ở phương Nam là đất nhà Lê
Phía Bắc họ Mạc trị vì
Lấy đèo Tam Điệp mà chia tạm thời
TRỊNH KIỂM (1545- 1570)
Trịnh Kiểm người Sóc Sơn - Vĩnh Lộc
Rất thông minh mưu lược hơn người
Nguyễn Kim yêu mến vì tài
Gã cho con gái , giao coi binh quyền
Khi Nguyễn Kim bị đầu độc chết
Vua trao Kiểm kế nghiệp Tĩnh Công
Toàn quyền thống lĩnh ngoài trong
Đốc xuất binh tướng , bổ sung nhân tài
Thuần Phúc sai thượng thư Giáp Hải(1566)
Đi lên miền địa giới Lạng Sơn
Đón Lê Quang Bí sứ thần
Phái đi mười tám năm tròn tới nay
Trịnh Kiểm thay vua Lê điều khiển
Cuộc tương tranh trận tuyến hai miền
Sáu năm chinh chiến triền miên
Một hôm Kính Điển đem thuyền tấn công
Vào Thanh Hóa vượt sông Đại Lại(1555)
Quân nhà lê giữ núi Kim Sơn
Hai bên giao chiến tương tàn
Cuối cùng quân Mạc bị đòn phản công
Thọ Quận Công liệu mình không thoát
Nhảy xuống sông bắt chước Yết Kiêu
Sức người nào dễ chìu theo
Mênh mông sóng nước rong rêu cuốn người
Hai năm sau vua sai đánh nữa (1557)
Thanh Quân Công chống giữ Nga Sơn
Vũ Lăng lựa kế đánh dồn
Khiến cho Kính Điển thua luôn trận này(1557)
Để đánh trả Kiểm sai năm vạn
Vừa chiến thuyền lính tráng binh lương
Giong buồm trực chỉ Sơn Nam
Hai bên quần thảo cùng đường lui quân
Cuộc chiến tranh không phân thắng bại
Khiến dân tình khốn khổ lầm than
Lòng người quá đỗi hoang mang
Bắc nam tương sát điêu tàn không nguôi
NGUYỄN HOÀNG ( 1558 - 1613)
Năm Mậu Ngọ, tháng mười, Trịnh Kiểm(1558)
Cho Nguyễn Hoàng vào trấn Hoá Châu
Đắp đài làm lễ đàn giao
Dậm chân đất mới vẹt lau dựng nhà
Bõ những lúc bôn ba sất bất
Nay tìm ra chổ đất dung thân
Lựa nơi hiễm yếu đóng quân
Biển dâu nay đã biến dần gia trang
Năm Kỉ Mùi vừa gần tháng tám(1559)
Trịnh Kiểm đem sáu vạn tinh binh
Sau khi hiểu rõ sự tình
Đích thân làm tướng điều binh lên đường
Mạc Phúc Nguyên vội vàng ra ở
Đặt dinh cơ trú sở cửa Nam
Đóng từ Bạch Hạc-Nam Xang
Trại binh, thuyền chiến trải dàn một phương
Mặc cho Kiểm trên đường đánh tới
Chiếm một vùng ra mãi phía Tây
Dụ cho quân Trịnh sa lầy (1560)
Lén sai Kính Điển vào ngay Yên Trường
Quân Trịnh Kiểm hoang mang chẳn biết
Bị quân Mạc tập kích sau lưng
Tây Đô bối rối vô cùng
Thái sư hốt hoảng rút trung quân về
Còn dân chúng nhiều bề khốn khổ
Đất nước dần đến chỗ tan thương
Ruộng vườn để mặc đất hoang
Con dân ly tán chạy sang nước người
Về xã hội suy đồi cùng cực
Nền kinh tế gặp lúc nguy nan
Sâu rầy cắn nát mùa màng
Khi thì hạn hán khi tràn vở đê(1562)
Nước ngã nghiêng nhiều bề thảm khốc
Lòng trung quân vị quốc hiếm thay
Quần thần vua chẳng tin ai(1562)
Hôm nay trung đó ngày mai phản mình
MẠC MẬU HỢP (1562- 1592)
Mạc Phúc Nguyên chết năm Tân Dậu (1561)
Lúc chiến tranh đổ máu tương tàn
Triều thần tổ chức đăng quang
Tiến phong Mậu Hợp lên làm quốc vương
Điều binh tướng , cố ngăn quân Trịnh
Giữ Sơn Nam, chận đánh Trường Yên
Mấy năm tương sát triền miên
Tổn thất sinh mang hai bên quá nhiều
Mạc Hậu Hợp nghe theo Kính Điễn
Nhân sau khi Trịnh Kiểm qua đời(1570)
Trịnh Tùng, Trịnh Cối dằng dai
Tranh nhau ngôi báu như loài sói lang
Nhân cơ hội bằng vàng lúc đó
Mạc Kính Điển phủ dụ thân vương
Đem quân mười vạn lên đường
Bảy trăm thuyền chiến giương buồm vào Nam(1570)
Trong lúc đó ngôi vương phủ chúa
Việc tranh chấp ở giữa hai bên
Trịnh Tùng được lập đưa lên
Vua Lê chấp thuận giao quyền quốc gia
TRỊNH TÙNG (1570- 1623)
Trịnh Cối trước vốn là anh cả
Nếu được ngôi là họa cho dân
Một người tửu sắc hoang dâm
Khó lòng điều tướng , cầm quân bấy giờ
Quân họ Mạc từ từ chiếm cứ
Lấy Thanh Hoa , thu giữ Long Sùng
Vua Lê giao tướng Trịnh Tùng
Đem quân tái chiếm các vùng trước đây
Mạc Kính Điển lâu nay vẫn sợ
Nản lòng quân khi ở quá lâu
Truyền cho binh lính lui sau
Vạch con sông Cả đôi bờ phân ranh
Nguyễn Hoàng đi trấn miền Thuận Hóa
Đem tài riêng cải hóa yên dân
Vua cho thêm đất Quảng Nam
Thống binh suất tướng sửa sang mối giềng
Tướng Nguyễn Hoàng rất nghiêm quân lệnh
Có lòng nhân lại tính khoan hòa
Công bằng phép nước đặt ra
Chấn hưng phong tục, kiểm tra bồi thần
Sống vì dân xả thân vì nước
Ông là người đoán được thời cơ
Quốc gia loạn lạc xác xơ
Nhân tâm ly tán kể từ Mục Vương
Ngoài Nghệ An xảy cơn chính biến(1572)
Vua Anh Tông trốn lén đi xa
Vì nghe Hấp-Ngạn dèm pha
Tả quân quyền thế quan gia khó lòng
Tả tướng quân Trịnh Tùng hay chuyện
Đem binh gia đến huyện Thụy Nguyên
Rước ngay hoàng tử về liền
Tôn làm hoàng đế vỗ yên lòng người
Lê Cập Đệ vốn nuôi đại chí
Đang trên sông mưu thí Trịnh Tùng(1572)
Thương cho một đấng anh hùng
Mưu không thành được bị Tùng chém phăng
LÊ THẾ TÔNG HOÀNG ĐẾ
( 1573- 1599 )
Khi lên ngôi Duy Dân sáu tuổi
Đổi niên hiệu Gia Thái đầu năm
Việc binh cho đến việc dân
Trịnh Tùng tự tác dần dần thay vua
Xuống lệnh cho Hữu Liên, Đức Vị
Đi rước về hoàng đế Anh Tông
Gặp vua đang ở giữa đồng
Xin ngài mau chóng để cùng hồi loan
Đến nửa đường mưu toan bức hại(1573)
Rồi phao vua sợ hãi quyên sinh
Quần thần nghe được thất kinh
Kể từ dạo đó triều đình mới yên
Ơ Bắc triều nắm quyền cai trị
Mậu Hợp xem mạch địa Thăng Long(1577)
Sai quan dựng trại ngoài trong
Mở khoa thi Hội yên lòng thứ dân
Năm Mậu Dần(1570) đốc binh Kính Điển
Hội cùng quan Ngọc Liễn đem quân
Đánh vàoThanh Hóa mấy lần
Mặt trên phương Bắc chiếm gần châu Thu
Mạc Kính Điển được vua yêu quí
Là một người tài trí thông minh
Với vua một mực trung thành
Trong hàng tướng lãnh vang danh một thời(1580)
Các quan khác xu thời hèn nhát
Chỉ tham tiền, kiếm chác của dân
Hợp thì dâm dục, bất nhân
Bắc triều từ đó đến dần diệt vong
Thành Thăng Long lần này tu bổ(1587)
Sửa sang nhiều những chổ hư hao
Trồng tre chống giặc làm rào(1587)
Đắp thêm lũy đất còn cao hơn thành
Hợp lại sai dựng đình xây điện
Bày ra trò tiệc yến liên miên
Mê người thiếu nữ : vợ Niên
Lập mưu bức hại, dành riêng cho mình
Bảy mươi năm chiến tranh Nam Bắc
Nỗi kinh hoàng gieo rắc trong dân
Ba mươi tám trận qua phân
Nước non xơ xác muôn phần xót xa
Năm Nhâm Thìn, mồng ba sau tết(1592)
Dựng trai đàn, Tiết chế Trịnh Tùng
Nam giao lễ tế núi sông
Cáo trời Bắc phạt rùng rùng tiến quân
Sông Minh Giang, Trịnh Tùng vừa đến
Cho dựng đồn bày trận trước tiên
Lệnh ban không được thù riêng
Nếu ai vi phạm luật riêng tử hình
Quân đi nhanh qua sông Tô Lịch
Đến Xạ Đôi vừa kịp qua sông
Hẹn cùng mai đánh Thăng Long
Cửa Tây thẳng tiến tấn công vào thành
Ba cửa thành Nam Giao Cầu Gỗ
Tướng Trần Phương coi chổ tượng binh
Dàn quân bố trận thật nhanh
Cuốn cờ im trống nghi binh đợi giờ
Qua Thiên Phái , qua đò Đoan Vĩ
Lệnh xuất quân về phía cửa sông
Đánh thượng lưu đuổi đến cùng
Mạc quân tan vỡ Quốc công đầu hàng
Tháng mười một, lập xuân vừa tới
Mạc Mậu Hợp tiến thối lưỡng nan
Bốn bề dày đặc quân Nam
Quan binh nhà Mạc vỡ tan dần dần
Quan Tiết chế cho ban quân lệnh
Nhắc binh lính phải tránh tối đa
Kẻ nào phạm đến cửa nhà
Cướp bóc hãm hiếp thì là giết ngay
Quân Nam triều bao vây họ Mạc
Bến Sa Thảo lấy được hàng nghìn
Khí tài, lương thảo, chiến thuyền
Rồi đem nhân nghĩa vỗ yên dân lành
Vua nhà Mạc bỏ thành chạy trốn
Đem tàn binh về trấn Hải Dương
Trịnh Tùng đuổi đến Tranh Giang
Dừng quân dựng trại , cắt đường về kinh
Mạc Mậu Hợp một mình chạy lạc
Bị dân binh bắt được trong chùa
Trong khi đang giả làm sư
Trói tay, bêu sống, dâng tù đóng đinh
Mạc Kính Chỉ về miềnYên Quảng
Còn Tôn thất tản mạn khắp nơi
Mười phần chết tám còn hai
Xem như họ Mạc hết thời từ đây
Thành Thăng Long cho xây sửa tạm
Chỉ trong vòng một tháng làm xong
Sắm bày xe cộ, nghi phong
Thiết đài lễ đón Thế Tông ngự triều
Ngày mười sáu cờ treo đại yến(1593)
Vua ngồi trên chính điện khai triều
Ban cho ơn trạch trước sau
Đại xá thiên hạ buổi đầu trung hưng
Còn họ Mạc cuối cùng bôn tẩu
Lấy Bắc phương nương náu thân tàn
Vào năm Đinh Hợi được dân(1527)
Đến năm Quý Hợi mất luôn chính quyền(1623)
Sáu bảy năm Đăng Dung xưng đế
Tiếm ngôi trời quốc thể hưng vong
Cháu con nay phải long đong
Năm đời vua Mạc cuối cùng chuyển qua
Lật trang qua Nguyễn Hoàng thống lĩnh(1593)
Đem thủy binh bình định Kính Chương
Dồn cho quân Mạc hết đường
Lấy thêm các xứ Hải Dương, Đại Đồng
Mạc Ngọc Liễn lâm chung hấp hối(1594)
Bản chúc thư trăn trối thế này:
"Vận nhà Mạc hết từ nay
Họ Lê hưng phục chuyển xoay số trời
Chớ nên mời Minh vào xứ sở
Để dân ta đau khổ lầm than
Tội này lớn lắm khó bàn
Ngươi nên nhớ lấy để răn mọi người "
Rất nhiều nơi mất mùa năm đó
Dân Hải Dương chết đói quá cao(1594)
Người ta ăn thịt lẫn nhau
Ngoài đường xác chết gối đầu giơ xương (1595)
Quân trộm cướp nhiễu nhương nhiều chổ(1595-1596)
Chúng đốt nhà cướp của lương dân
Tình hình xã hội bất an
Vua Lê, chúa Trịnh mãi đang tranh giành
Vua nhà Minh nhiều lần sai sứ
Mang điệp văn qua cửa Nam giao(1596)
Đòi vua hội khán sang chầu
Dây dưa thất hẹn trước sau hai lần
Phùng Khắc Khoan bổ làm Chánh sứ(1597)
Đi mấy tháng mới tới Yên Kinh
Gặp ngày Vạn Thọ vua Minh
Thảo ngay một tập thơ trình vua xem
Vua Minh khen tập thơ Vạn Thọ
Xuống lệnh truyền cho thợ khắc in
Lại sai sứ giả Triều Tiên
Viết lời đề tựa nói thêm mấy điều
Năm Mậu Tuất(1598) có nhiều thay đổi
Thăng Trịnh Tùng lên tới quận công
Nguyễn Hoàng dụng kế thủy quân
Đánh tan thuyền Mạc ở gần Hải Dương
Lê Thế Tông lại băng sau đó (1599)
Ơ ngôi vua hăm bảy năm trời
Quyền hành đã dược người coi
Đã Vua còn Chúa, thói đời mỉa mai
LÊ KÍNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
(1600- 1619)
Bình an Vương chọn người nối nghiệp
Con thứ là công tử Duy Tân
Lên ngôi đặt hiệu Kính Tông
Đổi năm Thuận Đức nối dòng hoàng gia
Thực sự vua chỉ là đại diện
Cho quốc gia khi tiếp sứ thần
Vua là biểu tượng cho dân
Nhưng quyền quyết định thuộc phần Trịnh Vương
Cho Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa
GiaoTrịnh Tùng phò tá Tây Đô
Loạn trong cả nước bấy giờ
Quan quân hào trưởng tha hồ ra oai
Cả ba miền nhiều tay cát cứ
Họ Mạc thì trấn giử Bắc phương
Trịnh-Lê chiếm đến Hoàng Giang
Phương Nam riêng để Nguyễn Hoàng đóng quân
Bình An Vương sai Luân đi đánh
Đem bộ binh vào chiếm phương Nam
Bị dân tại chỗ phá tan
Kể từ dạo ấy đôi đường phân ly
Năm Quý Sửu(1613)Nguyễn Hoàng tạ thế
Mấy ai sống đến dễ chín mươi
Giang sơn một dãi ơn trời
Đất từ Thuận Quảng kéo dài vô Nam
NGUYỄN PHÚC NGUYÊN (1613- 1635)
Nguyễn Phúc Nguyên nối giòng đời trước(1613-1635)
Tước Thương Công lại được vua Lê
Duy Từ khuyên Chúa lờ đi
Chỉ thêm ràng buột , khó bề mai sau
Ba mươi năm khi vào trấn nhậm
Khai khẫn thành vùng đất phì nhiêu
Đàng trong hùng kiệt đã nhiều
Nhân tài đất Bắc vào theo lắm người
Và càng ngày càng thêm thanh thế
Biết chiêu hiền đãi sĩ trong dân
Chọn người đảm trách việc quan
Cầm cân nẫy mực làm gương cho người
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.